Giá cà phê phục hồi nhẹ sau chuỗi giảm sâu
Sau nhiều phiên liên tiếp đi xuống, thị trường cà phê nội địa trong sáng 7/5 đã xuất hiện tín hiệu hồi phục nhẹ tại hầu hết các địa phương trọng điểm thuộc khu vực Tây Nguyên.
Ảnh minh họa. Nguồn: Internet.
Theo khảo sát, giá cà phê hiện được giao dịch trong khoảng 85.500 - 86.200 đồng/kg, tăng 400 - 500 đồng/kg so với hôm trước.
Trong đó, Đắk Nông tiếp tục dẫn đầu thị trường khi tăng thêm 500 đồng/kg, lên mức 86.200 đồng/kg. Tại Đắk Lắk và Gia Lai, giá cà phê đồng loạt tăng 400 đồng/kg, cùng đạt 86.000 đồng/kg. Riêng Lâm Đồng tăng 500 đồng/kg, hiện giao dịch quanh mức 85.500 đồng/kg và vẫn là địa phương có giá thấp nhất khu vực.
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê trong phiên giao dịch mới nhất đồng loạt tăng trở lại. Tại sàn London, robusta kỳ hạn tháng 7/2026 tăng lên 3.378 USD/tấn, còn hợp đồng tháng 9/2026 đạt 3.297 USD/tấn.
Ở sàn New York, đà tăng của arabica diễn ra mạnh hơn khi hợp đồng tháng 7/2026 tăng lên 289,75 US cent/pound, trong khi hợp đồng tháng 9/2026 đạt 280,4 US cent/pound.
Theo nhận định của giới phân tích, diễn biến tỷ giá cùng lực mua cải thiện trên thị trường quốc tế đang hỗ trợ giá cà phê, đặc biệt trong bối cảnh đồng Real Brazil phục hồi mạnh trở lại.
Hồ tiêu trong nước tiếp tục giữ vùng giá cao
Sáng 7/5, thị trường hồ tiêu nội địa tiếp tục duy trì trạng thái ổn định sau nhiều phiên biến động nhẹ trước đó. Khảo sát tại các vùng nguyên liệu trọng điểm cho thấy giá tiêu hiện dao động trong khoảng 140.000 - 144.000 đồng/kg, không thay đổi so với hôm qua.
Trong đó, Đắk Lắk và Đắk Nông tiếp tục là hai địa phương có mức thu mua cao nhất cả nước khi cùng đạt 144.000 đồng/kg. Đây cũng là nhóm địa phương duy trì mặt bằng giá cao suốt nhiều tuần gần đây nhờ nguồn cung không còn dồi dào sau vụ thu hoạch chính.
Theo sau là khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu với mức giá 142.500 đồng/kg, còn Đồng Nai ổn định tại 142.000 đồng/kg. Ở chiều ngược lại, Gia Lai tiếp tục là địa phương có giá thấp nhất thị trường khi giao dịch quanh ngưỡng 140.000 đồng/kg. Tuy nhiên, nếu so với cùng kỳ năm ngoái, mặt bằng giá hiện tại vẫn cao hơn đáng kể, qua đó giúp người trồng tiêu duy trì lợi nhuận tích cực.
Trên thị trường quốc tế, giá hồ tiêu tiếp tục phân hóa giữa các quốc gia sản xuất lớn. Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), tiêu đen Indonesia giảm thêm 0,33%, tương đương 19 USD/tấn, xuống còn 6.947 USD/tấn.
Đối với tiêu trắng Muntok của Indonesia, giá tiếp tục giảm thêm 25 USD/tấn, còn 9.153 USD/tấn. Đây là phiên giảm tiếp theo của hồ tiêu Indonesia trong bối cảnh nguồn cung mới bắt đầu ra thị trường và sức mua quốc tế chưa có sự bứt phá mạnh.
Trong khi đó, nhiều thị trường lớn khác gần như đi ngang. Tiêu đen Brazil loại ASTA 570 tiếp tục giữ mức 6.100 USD/tấn, còn Malaysia ổn định ở ngưỡng 9.300 USD/tấn. Với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l vẫn được chào bán trong khoảng 6.100 - 6.200 USD/tấn, còn tiêu trắng duy trì quanh mức 9.000 USD/tấn.
Giá lúa gạo ổn định, thị trường xuất khẩu biến động trái chiều
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, thị trường lúa gạo hôm nay tiếp tục duy trì trạng thái ổn định. Giao dịch nhìn chung diễn ra chậm do nguồn lúa tươi không còn nhiều, trong khi doanh nghiệp thu mua khá thận trọng.
Giá lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 hiện dao động trong khoảng 6.100 - 6.300 đồng/kg. Những chủng loại khác như OM 5451, IR 50404 và OM 34 cơ bản không thay đổi so với trước đó.
Đối với mặt hàng gạo, giá nguyên liệu xuất khẩu IR 504 dao động từ 8.600 - 8.700 đồng/kg, CL 555 giữ ở mức 9.000 - 9.200 đồng/kg, còn Đài Thơm 8 duy trì quanh ngưỡng 9.200 - 9.400 đồng/kg.
Ở thị trường bán lẻ, mặt bằng giá gạo tiếp tục đi ngang. Gạo Nàng Nhen vẫn giữ mức cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg, trong khi các dòng gạo phổ thông và gạo thơm không ghi nhận nhiều biến động.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam xuất hiện diễn biến trái chiều. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, gạo Jasmine tăng lên mức 513 - 517 USD/tấn, cao hơn 17 USD/tấn so với đầu tuần. Ngược lại, gạo thơm 100% tấm giảm nhẹ xuống còn 331 - 335 USD/tấn.
Tại thị trường châu Á, giá gạo của Thái Lan và Ấn Độ cũng ghi nhận biến động theo hai hướng khác nhau. Trong đó, gạo 5% tấm của Thái Lan tăng lên 396 - 400 USD/tấn, còn gạo 100% tấm giảm xuống mức 367 - 371 USD/tấn.
Lan Lê