Khi chi phí di chuyển, nhà ở và tiếp cận dịch vụ ngày càng gia tăng, việc tổ chức lại các trung tâm phát triển, gắn với mạng lưới việc làm và không gian xanh, trở thành chìa khóa để nâng cao chất lượng sống.
Mô hình phát triển đa trung tâm không chỉ giúp thành phố Hà Nội giảm áp lực hạ tầng, mà còn tạo ra các cực tăng trưởng mới, lan tỏa cơ hội phát triển ra toàn bộ không gian đô thị. Ảnh: Quang Thái
Từ giãn dân đến áp lực chi phí sống đô thị
Mở rộng không gian đô thị thường được xem là giải pháp căn cơ để giảm tải cho khu vực lõi. Tuy nhiên, thực tế phát triển của Hà Nội cho thấy, mở rộng chưa đồng nghĩa với giãn dân hiệu quả.
Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn quốc tế enCity Nguyễn Đỗ Dũng, một trong những đơn vị tham gia liên danh tư vấn lập Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, nhận định: “Vấn đề cốt lõi của siêu đô thị không còn là mở rộng địa giới hay tăng dân số theo nghĩa cơ học, mà là làm thế nào để bảo toàn lợi ích tích tụ trong điều kiện chi phí giao thông, nhà ở và hạ tầng xã hội ngày càng tăng”.
Theo ông Nguyễn Đỗ Dũng, lợi thế lớn nhất của đô thị nằm ở khả năng tạo ra một thị trường lao động quy mô lớn, nơi người dân có thể tiếp cận đa dạng cơ hội việc làm trong thời gian hợp lý. Nhưng khi chi phí di chuyển, nhà ở và dịch vụ tăng nhanh, lợi ích này sẽ bị bào mòn, thậm chí chuyển hóa thành “ma sát đô thị”.
Thực tế phát triển của đô thị Hà Nội đã phần nào phản ánh điều đó. Dù nguồn cung nhà ở tại các khu đô thị mới tăng mạnh sau khi mở rộng địa giới, nhưng khu vực nội đô vẫn chịu áp lực dân số lớn. Một nguyên nhân quan trọng là các khu đô thị mới chủ yếu cung cấp nhà ở, trong khi việc làm, dịch vụ công và kết nối giao thông chưa phát triển tương xứng.
Không chỉ vậy, cấu trúc phát triển theo chiều rộng trong thời gian dài cũng khiến khoảng cách giữa nơi ở và nơi làm việc ngày càng kéo giãn. Nhiều khu đô thị mới trở thành “đô thị ngủ”, ban ngày vắng người, ban đêm quá tải, trong khi khu vực lõi vẫn tập trung phần lớn hoạt động kinh tế - dịch vụ. Nói cách khác, người dân không chỉ lựa chọn nơi ở dựa trên diện tích hay giá nhà, mà dựa trên tổng chi phí sống, bao gồm thời gian và chi phí di chuyển, khả năng tiếp cận trường học, bệnh viện và các dịch vụ thiết yếu. Khi những yếu tố này chưa được bảo đảm, việc giãn dân chỉ dừng lại ở hình thức.
Ở góc độ quản trị đô thị, điều này cũng đặt ra yêu cầu phải chuyển từ tư duy “phân bố dân cư” sang tư duy “tổ chức lại cơ hội phát triển”. Đây chính là điểm cốt lõi trong tinh thần của Nghị quyết số 02-NQ/TW về xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội trong kỷ nguyên mới, khi nhấn mạnh việc lấy con người và chất lượng sống làm trung tâm của mọi quyết sách.
Đưa việc làm gần hơn với cơ hội tiếp cận
Từ việc nhìn nhận lại “bài toán” giãn dân, ông Nguyễn Đỗ Dũng đề xuất một hướng tiếp cận mới - tái cấu trúc đô thị theo mô hình đa trung tâm, gắn với mạng lưới việc làm và giao thông hiệu quả.
Theo đó, thay vì tập trung quá mức vào một lõi trung tâm hoặc đẩy dân cư ra xa các đô thị vệ tinh, Hà Nội cần hình thành các trung tâm việc làm, dịch vụ cấp trung gian, được bố trí theo mạng lưới. Các trung tâm này nên cách nhau khoảng 5-6km dọc theo các trục hướng tâm và vành đai có năng lực vận tải lớn, nhằm bảo đảm khả năng tiếp cận việc làm trong khoảng 30-45 phút.
Khoảng cách này không phải là “công thức cứng”, mà là cự ly hợp lý để vừa duy trì tính kết nối của thị trường lao động, vừa tạo điều kiện hình thành các cực phát triển có bản sắc riêng.
Quan trọng hơn, các trung tâm này không thể chỉ là những khu nhà ở mật độ cao. “Đó phải là tổ hợp có việc làm, thương mại, giáo dục, y tế, nghiên cứu - phát triển và không gian công cộng”, ông Nguyễn Đỗ Dũng nhấn mạnh.
Không chỉ từ góc độ quy hoạch, nhiều chuyên gia cũng chung quan điểm về việc cần tái tổ chức lại mối quan hệ giữa nơi ở và nơi làm việc. Theo Tiến sĩ Nguyễn Quang, nguyên Giám đốc Chương trình định cư con người Liên hợp quốc (UN-Habitat), một đô thị hiệu quả không phải là đô thị có quy mô lớn, mà là đô thị người dân có thể tiếp cận việc làm, dịch vụ thiết yếu trong thời gian hợp lý.
“Nếu không giải quyết được bài toán phân bổ việc làm, thì dù mở rộng không gian đến đâu, áp lực lên khu vực lõi vẫn sẽ tiếp diễn. Giãn dân chỉ thực sự có ý nghĩa khi đi cùng giãn việc làm và giãn dịch vụ”, Tiến sĩ Nguyễn Quang phân tích.
Ở góc độ kiến trúc, kiến trúc sư Trần Huy Ánh, Hội Kiến trúc sư Hà Nội cho rằng, Hà Nội cần chuyển mạnh sang tư duy phát triển theo mạng lưới. Mỗi khu vực phải trở thành một “điểm đến hoàn chỉnh”, nơi người dân có thể làm việc, sinh sống, học tập và hưởng thụ không gian công cộng ngay tại chỗ.
Thực tế, mô hình phát triển đa trung tâm không chỉ giúp giảm áp lực hạ tầng, mà còn tạo ra các cực tăng trưởng mới, lan tỏa cơ hội phát triển ra toàn bộ không gian đô thị. Khi việc làm, dịch vụ và tiện ích được phân bổ hợp lý, người dân sẽ không còn phải di chuyển xa, từ đó giảm chi phí xã hội và nâng cao chất lượng sống.
Song song với đó, cấu trúc xanh cũng cần được điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn. Mô hình vành đai xanh khép kín không còn phù hợp trong bối cảnh đô thị phát triển đan xen. “Cần chuyển sang cấu trúc xanh mở, gồm các nêm xanh, hành lang sinh thái và không gian nông nghiệp sinh thái”, ông Nguyễn Đỗ Dũng nêu.
Một điểm nhấn khác là công cụ “Quyền phát triển có thể chuyển đổi” (TDR), cho phép chuyển quyền phát triển từ khu vực cần bảo tồn sang khu vực có thể tiếp nhận mật độ cao hơn, qua đó tăng tính khả thi cho quy hoạch, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa phát triển và gìn giữ các giá trị sinh thái.
Các chuyên gia đô thị đều chung quan điểm rằng mục tiêu của tái cấu trúc đô thị không phải là đẩy dân ra xa, mà là đưa việc làm, dịch vụ và cơ hội tiếp cận lại gần hơn. Đây cũng là tinh thần xuyên suốt trong các định hướng lớn hiện nay từ trung ương đến thành phố Hà Nội, trong đó phát triển đô thị không chỉ theo chiều rộng, mà theo chiều sâu, lấy chất lượng sống làm thước đo.
Bảo Hân