Trong khi đó, các quy trình kỹ thuật và hệ thống MRV (đo đạc, báo cáo, thẩm định giảm phát thải) đang dần hình thành. Nhiều ý kiến cho rằng thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở công nghệ mà ở khả năng tổ chức thực hiện ngoài đồng ruộng. Nếu quy trình quá phức tạp, nhiều biểu mẫu và chi phí giám sát lớn, mục tiêu giảm phát thải rất dễ “đứt gánh” ngay từ cơ sở.
Quy trình giảm phát thải phải đủ đơn giản để nông dân làm được
Mới đây, tại cuộc họp lấy ý kiến về Dự thảo Quy trình sản xuất lúa giảm phát thải và Quy trình MRV do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức, nhiều ý kiến đều thống nhất rằng, đây là một trong những chương trình chuyển đổi nông nghiệp lớn nhất từ trước tới nay của Việt Nam.
Theo kế hoạch, khoảng 1 triệu hecta lúa tại Đồng bằng sông Cửu Long sẽ được tổ chức lại sản xuất theo hướng đồng bộ các giải pháp giảm phát thải như quản lý nước, giảm lượng giống gieo sạ, tối ưu phân bón, cơ giới hóa và xử lý rơm rạ sau thu hoạch. Đây được xem là nền tảng để Việt Nam từng bước tham gia thị trường carbon trong ngành lúa gạo. Tuy nhiên, điều khiến nhiều địa phương lo ngại không phải là thiếu công nghệ hay thiếu quy trình kỹ thuật, mà là khả năng triển khai thực tế trên quy mô rất lớn.
Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chưa từng có của ngành lúa gạo: Vừa phải giảm phát thải khí nhà kính trên quy mô hàng triệu hecta, vừa phải bảo đảm nông dân có thể áp dụng trong thực tế. Ảnh: PV
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung nhấn mạnh, nếu quy trình được xây dựng quá phức tạp, yêu cầu nhiều biểu mẫu, nhiều thao tác kỹ thuật hoặc cơ chế giám sát rườm rà thì rất khó áp dụng trong điều kiện sản xuất lúa của Việt Nam hiện nay còn nhỏ lẻ, phân tán và khác biệt lớn giữa các vùng sinh thái. “Đưa ra mà địa phương không tổ chức thực hiện được thì coi như thất bại”, Thứ trưởng Hoàng Trung cho biết thêm.
Dự thảo hiện nay tập trung mạnh vào biện pháp tưới ướt khô xen kẽ (AWD), được xem là giải pháp cốt lõi để giảm phát thải methane từ ruộng lúa. Theo dự thảo, từ khoảng 20 ngày sau gieo sạ đến trước trỗ bông 10 ngày, ruộng phải được rút nước tối thiểu hai lần trong mỗi vụ, mỗi lần khô liên tục ít nhất 3 ngày.
Mô hình sản xuất lúa giảm phát thải tại xã Ứng Hòa. Ảnh: Phùng Lương
Theo các nghiên cứu quốc tế, canh tác lúa hiện chiếm khoảng một nửa lượng phát thải khí nhà kính của toàn ngành nông nghiệp Việt Nam, chủ yếu từ methane hình thành trong điều kiện ruộng ngập nước kéo dài. Vì vậy, thay đổi phương thức quản lý nước được xem là giải pháp quan trọng nhất nếu muốn giảm phát thải trong ngành lúa gạo. Tuy nhiên, không phải nơi nào cũng có thể áp dụng AWD giống nhau. Đồng bằng sông Hồng, miền Trung, miền núi phía Bắc hay Đồng bằng sông Cửu Long có điều kiện thủy lợi và tập quán canh tác rất khác nhau. Do đó, nhiều chuyên gia cho rằng quy trình quốc gia cần đủ linh hoạt để địa phương có thể điều chỉnh theo thực tế thay vì áp dụng cứng nhắc.
Không chỉ Đồng bằng sông Cửu Long, Hà Nội hiện cũng bắt đầu quan tâm mạnh hơn tới sản xuất lúa giảm phát thải trong bối cảnh thành phố đang thúc đẩy nông nghiệp xanh và phát triển kinh tế tuần hoàn. Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, nhiều vùng sản xuất lúa của thành phố hiện đã áp dụng cơ giới hóa cao, giảm lượng giống gieo sạ và sử dụng phân bón tiết kiệm hơn trước. Một số mô hình canh tác theo hướng hữu cơ, giảm phát thải tại các xã: Ứng Hòa, Mê Linh, Phú Xuyên… bước đầu cho thấy hiệu quả cả về môi trường lẫn chất lượng gạo.
MRV – “nút thắt” lớn nhất của ngành lúa gạo phát thải thấp
Nếu quy trình kỹ thuật là phần “nhìn thấy được” thì hệ thống MRV lại là phần quyết định tính sống còn của toàn bộ chương trình giảm phát thải. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp và tổ chức quốc tế đang triển khai các dự án lúa giảm phát thải tại Việt Nam đều xây dựng quy trình MRV riêng. Điều này khiến nguy cơ phân mảnh dữ liệu và thiếu thống nhất trong xác nhận giảm phát thải ngày càng rõ ràng, đặc biệt khi Việt Nam bắt đầu hướng tới thị trường carbon.
Hà Nội đẩy mạnh đưa cơ giới hóa vào sản xuất lúa giúp nâng cao năng suất và giảm chi phí sản xuất. Ảnh: PV
Theo Viện trưởng Viện Môi trường Nông nghiệp (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) Mai Văn Trịnh, nếu thực hiện đo methane trực tiếp ngoài ruộng trên diện rộng thì chi phí sẽ rất lớn. Nhưng nếu quy trình MRV yêu cầu quá nhiều biểu mẫu, nhập liệu hoặc kiểm tra liên tục thì nông dân và địa phương cũng khó tuân thủ. MRV phải đủ tin cậy để phục vụ kiểm kê và xác nhận giảm phát thải, nhưng đồng thời cũng phải đủ đơn giản để địa phương và người dân thực hiện được.
Hệ thống MRV sẽ gồm 5 bước và 3 cấp thực hiện. Dữ liệu sẽ được thu thập từ đơn vị triển khai dự án hoặc tổ chức tư vấn, sau đó tổng hợp ở cấp xã, chuyển lên Sở Nông nghiệp và Môi trường trước khi cập nhật vào hệ thống tập trung do Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật quản lý. Ảnh: PV
Theo đề xuất hiện nay, hệ thống MRV sẽ gồm 5 bước và 3 cấp thực hiện. Dữ liệu sẽ được thu thập từ đơn vị triển khai dự án hoặc tổ chức tư vấn, sau đó tổng hợp ở cấp xã, chuyển lên Sở Nông nghiệp và Môi trường trước khi cập nhật vào hệ thống tập trung do Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật quản lý.
Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng thách thức không chỉ nằm ở quy trình tính toán mà còn ở bộ máy vận hành sau khi ban hành. Người dân không thể tự đo phát thải hay tự xác nhận lượng giảm phát thải của mình. Toàn bộ quá trình này đòi hỏi hệ thống cán bộ kỹ thuật, khuyến nông và chính quyền cơ sở đủ năng lực để hướng dẫn, giám sát và tổng hợp dữ liệu.
Nếu quy trình MRV quá phức tạp hoặc yêu cầu cập nhật dữ liệu liên tục thì rất khó triển khai ở cấp cơ sở do thiếu nhân lực và thiết bị hỗ trợ. Điều quan trọng nhất hiện nay không phải là đặt mục tiêu quá cao về tín chỉ carbon, mà cần xây dựng được quy trình đơn giản, dễ hiểu và có thể nhân rộng trong thực tế.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Hoàng Trung, trước mắt cần ưu tiên tính khả thi của dự thảo thay vì chạy theo các cơ chế tài chính phức tạp. Do đó, Bộ yêu cầu Trung tâm Khuyến nông Quốc gia phối hợp với các địa phương tổ chức tập huấn ở cấp cơ sở ngay sau khi quy trình được ban hành.
Giảm phát thải trong ngành lúa gạo không chỉ là câu chuyện môi trường. Đây còn là quá trình tái cấu trúc sản xuất nông nghiệp, thay đổi tập quán canh tác và xây dựng hệ thống dữ liệu cho toàn ngành. Nếu làm tốt, Việt Nam không chỉ giảm được phát thải khí nhà kính mà còn có cơ hội nâng giá trị hạt gạo, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng xanh toàn cầu và từng bước tiếp cận thị trường carbon quốc tế.
Quỳnh Dung