Gần đây, sau khi xã, phường, huyện thị giải thể, sáp nhập, việc hình thành các ban đại diện hội đồng gia tộc theo cấp hành chính tương ứng càng được xúc tiến củng cố thông qua đại hội dòng họ. Theo đó, công cuộc phục dựng phả chí tộc họ, truy tìm và bổ túc phả hệ, kế thế việc xiển dương công đức tiền nhân, rất được nhiều người quan tâm.
Thực ra mối quan tâm về gia phả, phả chí, phả hệ dòng tộc không phải bây giờ mới có. Như câu chuyện của nhà gia phả học hàng đầu Việt Nam - Dã Lan Nguyễn Đức Dụ, từng kể về dòng họ mình đã có 5 tập di bút bằng chữ Hán (gồm: Nguyễn tộc phả ký, Trung thừa thế gia, Gia tiên quân văn chương, Ngọc phả, Kỵ điền), được cụ tằng tổ ghi chép, lưu giữ, trao truyền qua nhiều đời bảo tồn.
Thời nay, việc lưu giữ, bổ túc gia phả, phả chí tộc họ, hẳn sẽ ít người ghi chép bằng chữ Nho, mà chuyển qua quốc ngữ. Nhiều năm qua, đã có không ít tộc họ dựng phả chí, ghi phả hệ, vừa dịch thuật ra quốc ngữ các phả chí chữ Nho cũ, vừa biên soạn thêm. Với hình thức mới gồm cả bản giấy và bản điện tử, các phả chí tộc họ được phổ biến lan truyền rộng rãi không những trong con cháu dòng tộc mà còn được giới nghiên cứu tiếp cận, khảo cứu các giá trị lịch sử - nhân học - văn hóa...
Ở xứ Quảng, nhiều dòng họ cũng tích cực truy tìm nguồn cội tổ tông để biên soạn phả chí, rà soát chi phái các đời con cháu đang ở khắp nơi để bổ túc phả hệ. Bản thân người viết bài này cũng từng may mắn dự phần chấp bút cho cuốn “Phả chí họ Văn Quảng Nam - Đà Nẵng”, nên càng hiểu việc soạn phả chí thật khó nhọc, phải tham vấn các bậc cao niên tra cứu gia sử, tộc sử và đối chiếu tư liệu về vùng đất, địa phương cư trú, mới dựng nên hình hài câu chuyện lịch sử của một dòng họ.
Việc phục dựng, bổ túc hay biên soạn lại phả chí các dòng họ để làm gì? Hẳn là để cho con cháu đời này và mai hậu biết “cây có cội, nước có nguồn” mà tri ân tiền nhân dựng nên cơ nghiệp dòng họ.
Hơn thế nữa, ý nghĩa xã hội còn được mở ra với việc đoàn kết các tộc họ trong cộng đồng dân cư, minh chứng những công lao của các vị tiên tổ, tiên nhân trong hành trình lịch sử. Như xứ Quảng, khi tiếp cận các công trình phả chí dòng họ, sẽ tìm thấy nhiều sử liệu để tham khảo nghiên cứu quá trình “Bắc địa tùng vương” đi mở nước về phương Nam.
Nhiều cuốn sử làng, địa chí địa phương, đều cần có gia sử, tộc sử, phả chí tộc họ, để bổ túc bức tranh danh xưng làng xã, di tích, từ đó bồi đắp tâm thức yêu quê hương, đất nước. Và mỗi khi vào dịp giỗ Tổ, hay xuân kỳ thu tế, tên xứ đất, tên làng cũng được xướng lên cùng chư vị tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai canh, khai cơ trong văn tế, gợi lại xiết bao hoài niệm công ơn tiền nhân. Mỗi khi trở về quê, về làng, nghe xướng tế, người xa quê càng cảm ý niệm sâu thẳm của chuyện “ly hương bất ly tổ” là nhờ vậy.
Cuối cùng, nhân dịp giỗ Tổ mà nghĩ thêm về chuyện nhà gia phả học Nguyễn Đức Dụ từng nhận xét, rằng “các sử gia nói chung cũng ít quan tâm đến gia phả các dòng tộc, ngoại trừ tông phả, tộc phả của các triều đại phong kiến. Ngoài ra tìm hiểu lai lịch cội nguồn, có tên tuổi qua gia phả ta mới thấy rõ sự cống hiến vô bờ bến của dòng tộc ấy”, để hiểu việc làm phả chí, gia phả các dòng họ là rất cần thiết, ý nghĩa. Chính vì vậy, cụ Dã Lan đã nhắn lại cho hậu thế: “Nôm na gọi có mấy lời/ Nhắn ai nòi Việt ngàn đời đừng quên/ Chữ rằng “Mộc hữu bản; Thủy hữu nguyên’’/ Người mà bỏ gốc sao nên thân người…”.
NGUYỄN ĐIỆN NAM