Giữ đất cho đồng bằng: Bài cuối: Thay đổi tư duy để bảo tồn hệ sinh thái

Giữ đất cho đồng bằng: Bài cuối: Thay đổi tư duy để bảo tồn hệ sinh thái
2 giờ trướcBài gốc
Tôn trọng quy luật thiên nhiên
Những ngày đầu mùa mưa, con đường ven kênh Xáng ở ấp Tân Hậu A1, xã Tân An vẫn còn in rõ những vết nứt kéo dài sau vụ sạt lở hồi tháng 4 vừa qua. Một số hộ dân đã dời đi nơi khác, nhưng nhiều căn nhà vẫn còn nằm chênh vênh sát mép nước.
Ông Nguyễn Văn Sơn nhìn ra phía mép sông vừa được căng dây cảnh báo rồi chậm giọng: "Bà con ở đây sống nhờ sông nước mấy đời rồi. Giờ đất lở riết, ai cũng lo. Chúng tôi chỉ mong có cách nào giữ được đất để con cháu sau này còn chỗ làm ăn".
Nỗi lo ấy không còn là câu chuyện riêng của Tân An. Từ đầu nguồn An Giang đến các tỉnh ven biển Tây, ĐBSCL đang cùng lúc chịu tác động của biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sụt lún nền đất, suy giảm phù sa và biến động dòng chảy Mekong.
Các nhà khoa học giúp nông dân chọn tạo các giống lúa thích ứng với biến đổi khí hậu
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường An Giang, toàn tỉnh hiện có 56 đoạn sạt lở được cảnh báo với tổng chiều dài hơn 181km. Nhiều khu vực nguy hiểm kéo dài dọc theo sông Tiền, sông Hậu và các tuyến kênh lớn. Sạt lở không chỉ làm mất đất sản xuất, đe dọa nhà ở, giao thông, mà còn phản ánh sự suy yếu ngày càng rõ của hệ sinh thái đồng bằng.
Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện cho rằng điều đáng lo hiện nay không chỉ nằm ở biến đổi khí hậu, mà còn ở sự suy yếu nội tại của hệ sinh thái sau nhiều năm bị can thiệp quá mức. Đồng bằng càng khép kín dòng chảy tự nhiên, càng mất dần khả năng tự điều tiết.
Trong nhiều năm, ĐBSCL phát triển chủ yếu dựa trên tư duy mở rộng sản xuất và kiểm soát tự nhiên bằng công trình. Những tuyến đê bao khép kín giúp tăng vụ lúa, các công trình ngọt hóa mở rộng diện tích canh tác, nhưng đồng thời cũng làm thu hẹp không gian chứa lũ và suy giảm khả năng phục hồi tự nhiên của đồng bằng.
Nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Minh Hoan từng nhiều lần nhấn mạnh rằng ĐBSCL không thể tiếp tục phát triển bằng tư duy "khai thác bằng mọi giá”, mà phải chuyển sang tư duy "thuận thiên", xem nước, đất và hệ sinh thái là tài sản cần được nuôi dưỡng lâu dài. Điều quan trọng không chỉ là làm ra bao nhiêu sản lượng, mà còn phải giữ được sức khỏe của đồng bằng cho các thế hệ sau.
Thực tế cho thấy, không thể giữ đồng bằng bằng cách xử lý từng điểm sạt lở hay tiếp tục bó hẹp dòng chảy tự nhiên bằng tư duy chống lại tự nhiên. Những vấn đề của đồng bằng hôm nay cũng không còn là câu chuyện riêng của một địa phương. Dòng Mekong không chảy theo ranh giới hành chính. Sạt lở, xâm nhập mặn hay suy giảm phù sa đều mang tính liên vùng, liên tỉnh và liên quốc gia.
Bà con miền Tây khai thác cá mùa nước lũ
Bởi vậy, yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là thay đổi cách sản xuất, mà còn là thay đổi tư duy quản trị tài nguyên, quản trị nguồn nước và phát triển vùng. Đồng bằng cần được nhìn nhận như một chỉnh thể sinh thái thống nhất, nơi các địa phương phải liên kết để cùng thích ứng và cùng bảo vệ không gian sống chung.
Quyết định 616 của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh Quy hoạch vùng ĐBSCL thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã xác định rõ, an ninh nguồn nước là nhân tố cốt lõi cho phát triển bền vững của toàn vùng. Quy hoạch cũng đặt ra yêu cầu quản lý tài nguyên nước theo phương thức tổng hợp, thống nhất trên toàn lưu vực sông và chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, thích ứng chủ động với biến đổi khí hậu.
Ông Hồ Văn Mừng, Chủ tịch UBND tỉnh An Giang, cho rằng trước những biến động ngày càng lớn của khí hậu và dòng chảy Mekong, tỉnh đang chuyển mạnh tư duy phát triển theo hướng thích ứng bền vững, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên. Theo người đứng đầu chính quyền địa phương, An Giang không chỉ là vùng sản xuất nông nghiệp trọng điểm, mà còn giữ vai trò quan trọng trong điều tiết lũ, giữ nước đầu nguồn cho cả vùng đồng bằng.
Sau sáp nhập đơn vị hành chính, An Giang mở rộng không gian phát triển ra biển Tây và hải đảo, tạo điều kiện tăng cường liên kết vùng, liên kết nguồn nước và phát triển bền vững trên không gian sinh thái rộng lớn hơn.
Những định hướng ấy cho thấy, giữ đồng bằng hôm nay không thể chỉ dựa vào công trình hay các giải pháp ứng phó ngắn hạn. Điều cần hơn cả là một tư duy phát triển mới, biết tôn trọng quy luật tự nhiên và đặt lợi ích lâu dài của hệ sinh thái lên hàng đầu.
Nông dân các xã vùng U Minh Thượng thu hoạch tôm càng xanh
Tái tạo sức sống cho đồng bằng
Ở vùng đầu nguồn An Giang, mùa nước nổi từng là "mùa làm ăn" của nhiều người dân miền Tây. Nước mang theo phù sa, cá tôm và bồi đắp dinh dưỡng cho những cánh đồng sau mỗi mùa lũ. Nhưng nhiều năm gần đây, dòng nước ấy đang dần thay đổi. Nhiều cánh đồng không còn ngập sâu như trước. Những bãi bồi ven sông cũng ít dần theo sự suy giảm phù sa từ thượng nguồn Mekong.
Từ thực tế ấy, câu chuyện giữ đất cho đồng bằng hôm nay không còn dừng ở việc chống sạt lở hay xây dựng công trình, mà là tìm cách phục hồi lại sức sống tự nhiên cho cả hệ sinh thái.
Kết luận 26 của Bộ Chính trị đã đặt ra yêu cầu thích ứng chủ động, phát triển bền vững, quản lý tổng hợp tài nguyên nước, phục hồi hệ sinh thái và tăng cường liên kết vùng cho ĐBSCL. Tinh thần ấy cũng tiếp nối định hướng của Nghị quyết 120 trước đó, xem "thuận thiên" là trục phát triển dài hạn của vùng đồng bằng.
Nếu trước đây, đồng bằng chủ yếu được nhìn như "vựa lúa", thì quy hoạch mới đang mở ra cách tiếp cận rộng hơn, xem đây là không gian sinh thái, không gian kinh tế xanh và không gian phát triển liên kết giữa sông, biển, đô thị và biên giới.
Theo Quy hoạch vùng ĐBSCL điều chỉnh đến năm 2050, vùng châu thổ này được định hướng trở thành "vùng kinh tế sinh thái, nông nghiệp bền vững, hiện đại", nơi con người sống hài hòa với thiên nhiên, bản sắc văn hóa sông nước được gìn giữ và môi trường sinh thái được bảo tồn, tái tạo.
Để đi đến mục tiêu ấy, đồng bằng buộc phải thay đổi mô hình phát triển. Theo các chuyên gia, muốn giữ được ĐBSCL, trước hết chúng ta phải giảm dần những áp lực đang làm suy yếu hệ sinh thái: Giảm khai thác nước ngầm để hạn chế sụt lún nền đất; kiểm soát khai thác cát sông nhằm giảm nguy cơ sạt lở; phục hồi không gian chứa lũ để đồng bằng lấy lại khả năng tự điều tiết nước; phát triển nông nghiệp thuận thiên, tiết kiệm nước và giảm phát thải.
Bên cạnh đó, rừng ngập mặn ven biển cần được bảo vệ, tăng cường liên kết quản trị nguồn nước Mekong, ứng dụng khoa học công nghệ trong cảnh báo sớm thiên tai và phát triển mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn phù hợp với từng tiểu vùng sinh thái.
Tại nhiều địa phương, những tín hiệu phục hồi đã bắt đầu xuất hiện từ chính sự thay đổi trong tư duy sản xuất của người dân. Ở vùng đầu nguồn An Giang, nhiều mô hình lúa chất lượng cao giảm phát thải đang được mở rộng. Nông dân bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe đất, tiết kiệm nước và giảm chi phí đầu vào thay vì chạy theo sản lượng bằng mọi giá. Nhiều nơi từng bước phục hồi không gian chứa lũ, phát triển sinh kế mùa nước nổi gắn với thủy sản tự nhiên và du lịch cộng đồng.
Ở vùng ven biển, các mô hình "lúa - tôm", "tôm - cua" hay nuôi thủy sản gắn với bảo vệ rừng ngập mặn đang cho thấy hiệu quả rõ nét. Đây không chỉ là cách thích ứng với biến đổi khí hậu, mà còn mở ra hướng phát triển kinh tế xanh, phát thải thấp và bền vững hơn cho đồng bằng.
Quy hoạch vùng ĐBSCL cũng xác định rõ định hướng phát triển nông nghiệp sinh thái, tuần hoàn, đa giá trị và tổ chức không gian phát triển theo các tiểu vùng sinh thái thay vì chia cắt theo địa giới hành chính. Điều này được xem là bước chuyển rất quan trọng trong tư duy phát triển của toàn vùng.
Ông La Hồng Phong, Bí thư Đảng ủy xã Tân An, cho biết địa phương hiện không chỉ tập trung xử lý các điểm sạt lở trước mắt, mà còn đẩy mạnh tuyên truyền để người dân thay đổi nhận thức trong sinh sống và sản xuất ven sông. Theo ông, việc thích ứng với biến đổi khí hậu và sạt lở không thể chỉ trông chờ vào công trình, mà cần sự đồng hành của cả cộng đồng trong bảo vệ dòng sông, bảo vệ đất đai và sử dụng tài nguyên hợp lý hơn.
Những chuyển động ấy có thể chưa tạo ra sự thay đổi ngay lập tức, nhưng đang mở ra hy vọng cho vùng đất cuối nguồn Mekong. Bởi sau tất cả những biến động của dòng chảy, điều đồng bằng cần nhất lúc này không chỉ là những tuyến kè giữ đất, mà là một cách phát triển biết tôn trọng quy luật tự nhiên, biết gìn giữ hệ sinh thái như gìn giữ chính tương lai của mình.
Giữ đất cho đồng bằng, suy cho cùng, không chỉ là giữ từng mét đất ven sông, mà là giữ cuộc sống của người dân, giữ những mùa nước nổi từng nuôi lớn miền Tây và giữ những dòng sông, cánh đồng cùng ký ức sông nước đã bồi đắp nên bản sắc văn hóa của cả một vùng châu thổ. Nói một cách thiết thực hơn, thế hệ trước cần phải giữ lại cơ hội phát triển bền vững cho các thế hệ sau. Để mai này, trên vùng đất cuối nguồn Mekong, những dòng sông vẫn còn chảy giữa những mùa no ấm của đồng bằng.
LÂM THIÊN
Nguồn CA TP.HCM : http://congan.com.vn/vu-an/phong-su/bai-cuoi-thay-doi-tu-duy-de-bao-ton-he-sinh-thai_192773.html