Thiếu nữ Khơ Mú uyển chuyển trong điệu múa Vêr guông (múa Âu eo). Ảnh: Làng Văn hóa-Du lịch các dân tộc Việt Nam cung cấp
Hồn cốt văn hóa được nuôi dưỡng từ mái nhà Khơ Mú
Đồng bào Khơ Mú sinh sống tập trung tại khu phố Đoàn Kết thuộc xã Mường Lát và bản Lách, xã Mường Chanh. Đây là cộng đồng cư dân từng trải qua quãng thời gian dài du canh, du cư, đốt nương làm rẫy, chọc lỗ tra hạt để sinh tồn giữa đại ngàn. Đến năm 1994, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, bà con được bố trí định cư ổn định, từng bước xây dựng cuộc sống mới nơi biên cương.
Sự thay đổi về nơi ở và phương thức sản xuất không làm phai nhạt bản sắc văn hóa Khơ Mú. Trái lại, trong từng nếp nhà đơn sơ, dân ca, dân vũ vẫn hiện diện như một phần máu thịt của đời sống. Buổi chiều buông xuống, khi công việc nương rẫy tạm khép lại, cả gia đình quây quần bên bếp lửa, những làn điệu hát Tơm lại cất lên, mộc mạc mà tha thiết, kể chuyện hôm nay, nhắc chuyện xưa, gắn kết các thế hệ bằng sợi dây văn hóa vô hình mà bền chặt.
Hát Tơm-làn điệu dân ca tiêu biểu của người Khơ Mú mang giai điệu trữ tình mà khỏe khoắn, giàu hình ảnh và nhịp điệu. Trong mỗi dịp lễ, tết, cưới hỏi..., làn điệu Tơm lại vang lên dập dìu, say đắm. Không ai nhớ điệu Tơm có từ bao giờ, chỉ biết rằng từ bao đời nay, điệu Tơm đã gắn bó với mọi hoạt động văn hóa của người Khơ Mú. Các điệu Tơm truyền thống của người Khơ Mú như “Tơm Đường Kmun” (Tơm mừng đám cưới), “Tơm Ơ Grang Mỵ” (Tơm mừng nhà mới), “Tơm Kân Chơ” (Tơm giao duyên). Đặc biệt là điệu “Tơm Muôn” (Tơm mùa xuân) được hát múa trong những ngày xuân, ngày Tết... Trong lời hát là tiếng lòng của con người gắn bó với rừng núi, sông suối, là tâm hồn phóng khoáng, hồn nhiên của cư dân miền sơn cước. Đó có thể là lời giao duyên trong những đêm hội, là khúc hát tra hạt cầu cho mưa thuận, gió hòa, cũng có khi là những câu chuyện kể về công lao người xưa khai phá đất đai, dựng bản lập làng.
Điểm đặc sắc của hát Tơm nằm ở lối hát ứng tác. Người lớn tuổi cất tiếng trước, con cháu lắng nghe, ghi nhớ rồi học theo, dần dần biết đặt lời mới phù hợp với hoàn cảnh. Việc truyền dạy không diễn ra theo giáo án hay khuôn mẫu cứng nhắc, mà thấm dần qua sinh hoạt gia đình: Cha dạy con, bà dạy cháu, anh chị hướng dẫn em nhỏ. Chính cách “truyền miệng” ấy khiến dân ca Khơ Mú không bị đóng khung, mà luôn vận động, sống động cùng nhịp sống cộng đồng.
Cùng với hát Tơm, người Khơ Mú còn có hát Cưn Trơ, những câu hát ngắn gọn, mộc mạc, gần giống đồng dao của người Kinh. Hát Cưn Trơ thường vang lên khi lên nương, làm rẫy, vừa để xua tan mệt nhọc, vừa tạo không khí vui tươi, gắn kết những con người lao động. Âm nhạc của người Khơ Mú gắn liền với các nhạc cụ mộc mạc làm từ tre, nứa như sáo Pí Tơm, kèn môi, sáo mũi, bộ gõ tre... Nhiều gia đình vẫn giữ thói quen tự tay làm nhạc cụ cho con cháu, coi đó như cách dạy trẻ em biết trân trọng thiên nhiên và những giá trị xưa cũ của cha ông. Với người Khơ Mú, buổi tối không chỉ là thời gian nghỉ ngơi, mà còn là lúc văn hóa được “thắp sáng”. Bên bếp lửa, người già kể chuyện xưa, dạy con cháu từng câu hát, từng nhịp phách, để lời ca hòa cùng tiếng gió núi, tiếng côn trùng ngoài rừng sâu. Văn hóa vì thế không tồn tại ở đâu xa xôi, mà hiện hữu ngay trong nhịp sống thường nhật của mỗi gia đình.
Bên cạnh dân ca, dân vũ là mảng màu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của đồng bào Khơ Mú. Các điệu múa như múa cầu mưa, múa sạp, múa chọc lỗ tra hạt, múa cá lượn, múa dựng nhà... đều bắt nguồn từ chính lao động sản xuất và sinh hoạt cộng đồng. Trong những dịp lễ, Tết, mừng cơm mới hay dựng nhà mới, cả bản cùng tham gia múa. Người già kiên nhẫn hướng dẫn từng động tác, thanh niên thiếu nữ biểu diễn, trẻ em đứng vòng ngoài tập theo. Qua từng bước chân, từng động tác, con trẻ hiểu hơn công việc của cha mẹ trên nương rẫy, thấm thía ý nghĩa của hạt lúa, giọt nước mưa và giá trị của sự đoàn kết cộng đồng.
Điệu múa chọc lỗ tra hạt mô phỏng sinh động quá trình gieo trồng: Nam chọc lỗ, nữ tra hạt, đội hình di chuyển nhịp nhàng theo vòng tròn, tượng trưng cho vòng tuần hoàn của đất trời và sự tiếp nối của sự sống. Múa đuổi chim có tiết tấu nhanh, mạnh, thể hiện khát vọng bảo vệ mùa màng, ước mong cuộc sống no đủ. Đặc biệt, điệu múa “Dựng nhà” mang ý nghĩa sâu sắc, bởi đó không chỉ là niềm vui của một gia đình có mái ấm mới, mà còn là niềm hạnh phúc chung của cả bản làng.
Với người Khơ Mú, múa không đơn thuần là hoạt động văn nghệ, mà còn mang ý nghĩa tâm linh, gửi gắm ước vọng về mùa màng tốt tươi, gia đình yên ấm, bản làng đoàn kết. Dân vũ vì thế trở thành “ngôn ngữ” kết nối con người với thiên nhiên và các bậc tiền nhân, giúp cộng đồng tìm thấy sự cân bằng giữa đời sống vật chất và tinh thần.
Điệu múa khua luống của bà con Khơ Mú. Ảnh: Việt Bắc
Nỗ lực “đánh thức” di sản giữa dòng chảy hiện đại
Tuy nhiên, trước tác động mạnh mẽ của đời sống hiện đại, dân ca, dân vũ Khơ Mú đang đối mặt với không ít thách thức. Nhiều bài bản cổ, đạo cụ truyền thống có nguy cơ mai một hoặc bị giản lược khi đưa lên sân khấu. Phần lớn thanh niên đi làm ăn xa, ít có điều kiện tiếp cận đầy đủ với vốn văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Nếu không có giải pháp kịp thời, những giá trị tinh thần quý báu ấy rất dễ bị đứt gãy trong quá trình trao truyền.
Nhận thức rõ điều đó, năm 2026, địa phương dự kiến tổ chức khai mạc lớp tập huấn “Phục dựng, sưu tầm và phát triển múa dân tộc Khơ Mú”, với mục tiêu then chốt là “đánh thức” và hệ thống hóa lại kho tàng nghệ thuật múa dân gian đang có nguy cơ bị lãng quên. Lớp tập huấn không chỉ giúp phục dựng các điệu múa cổ, mà còn tạo điều kiện để nghệ nhân lớn tuổi truyền dạy trực tiếp cho thế hệ trẻ ngay tại cộng đồng. Trao đổi về công tác bảo tồn văn hóa Khơ Mú, đại diện Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa khẳng định, dân ca, dân vũ của người Khơ Mú là di sản văn hóa phi vật thể có giá trị đặc sắc. Việc tổ chức các lớp tập huấn, truyền dạy ngay tại bản làng không chỉ góp phần lưu giữ những điệu múa cổ, mà còn khơi dậy niềm tự hào văn hóa trong mỗi gia đình, để di sản tiếp tục được trao truyền một cách tự nhiên và bền vững.
Theo ngành văn hóa, việc bảo tồn không thể tách rời đời sống cộng đồng. Khi dân ca, dân vũ được thực hành trong sinh hoạt gia đình, trong lễ hội, trong lao động sản xuất, di sản mới thực sự “sống” và có sức lan tỏa. Bên cạnh đó, việc đưa dân ca, dân vũ Khơ Mú tham gia các hoạt động giao lưu, lễ hội còn giúp quảng bá hình ảnh văn hóa dân tộc, để người dân thêm hiểu, thêm yêu và thêm tự hào về truyền thống của mình. Những nỗ lực ấy cũng góp phần cụ thể hóa Dự án 6 về “Bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch” thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030, giai đoạn I: Từ năm 2021 đến năm 2025, đồng thời thúc đẩy phong trào văn hóa, văn nghệ quần chúng tại Mường Lát phát triển bền vững.
Việt Bắc