TÌM HƯỚNG ĐI MỚI
Những ngày nắng nhẹ, đứng bên rạch Bà Đài (xã Long Hậu, huyện Lai Vung trước đây, nay là xã Hòa Long), khó ai hình dung nơi đây từng là một làng nghề sôi động bậc nhất vùng. Vào thập niên 1970, cả khu vực vang tiếng cưa, tiếng đục; xuồng, ghe làm ra không kịp bán.
Đa phần các cơ sở đóng xuồng, ghe ở Làng nghề đóng xuồng, ghe rạch Bà Đài, xã Hòa Long đã chuyển sang đóng xuồng mỹ nghệ để đáp ứng nhu cầu thị trường.
Những người lớn tuổi nơi đây vẫn nhớ như in cảnh “trên bến dưới thuyền”, nhà nào cũng đỏ lửa, đèn măng-xông sáng xuyên đêm để kịp đơn hàng.
Hàng trăm hộ theo nghề, hàng ngàn lao động gắn bó, tạo nên một thời hoàng kim cho Làng nghề đóng xuồng, ghe rạch Bà Đài.
Hơn 50 năm gắn bó với nghề, ông Nguyễn Văn Tốt là một trong những người “giữ lửa” hiếm hoi còn lại. Gia đình ông có 4 đời làm nghề, chứng kiến những thăng trầm của làng nghề hơn trăm năm tuổi - nơi từng được công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia.
Ông Tốt cho biết: “Ngày đó, xuồng, ghe làm ra không kịp, ban ngày làm chưa kịp thì ban đêm thắp đèn làm tiếp, mà vẫn thiếu ghe giao cho khách…”.
Thế nhưng, theo dòng chảy của thời gian, khi đường bộ phát triển, phương tiện hiện đại dần thay thế, nhu cầu sử dụng xuồng, ghe giảm mạnh.
Làng nghề xưa giờ chỉ còn lác đác vài hộ duy trì. Không chấp nhận để nghề cha ông rơi vào quên lãng, ông Tốt trăn trở tìm hướng đi mới.
Khoảng năm 2010, ông bắt đầu thử nghiệm làm xuồng, ghe mini, những phiên bản thu nhỏ nhưng giữ nguyên kiểu dáng truyền thống. “Thấy nghề mai một, mình xót lắm, nhưng bỏ không đành.
Ông Nguyễn Văn Tốt được xem là nghệ nhân tại làng nghề, tiên phong làm xuồng, ghe mini, những phiên bản thu nhỏ nhưng giữ nguyên kiểu dáng truyền thống.
Ban đầu, tôi chỉ làm để “cho vui”, nhưng không ngờ sản phẩm được thị trường đón nhận. Từ quán ăn, nhà hàng đến điểm du lịch, nhiều nơi tìm đến đặt hàng để trưng bày, làm quà lưu niệm…”, ông Tốt nói.
Những chiếc xuồng cui nhỏ xinh, ghe tam bản, xuồng ba lá… qua bàn tay ông trở nên sống động, tinh xảo.
Mỗi sản phẩm có giá từ vài trăm ngàn đến hàng chục triệu đồng, tùy mẫu mã. Đặc biệt, các mẫu cầu kỳ như: Ghe ngo, ghe mũi chài hay thuyền rồng luôn được khách ưa chuộng do độ tinh xảo cao.
Đến nay, ông Tốt chế tác hàng ngàn sản phẩm, không chỉ tiêu thụ trong nước, mà còn theo chân du khách đến nhiều quốc gia như: Hoa Kỳ, Pháp, Italy, Hàn Quốc….
Không dừng lại ở đó, ông còn nhận làm theo yêu cầu các mẫu thuyền nước ngoài. Dù là tàu cứu sinh hay thuyền châu Âu, tất cả đều được ông tái hiện bằng sự tỉ mỉ và kinh nghiệm lâu năm.
Theo ông, nguyên liệu chủ yếu là gỗ mít, gỗ còng, gỗ mù u, những loại gỗ bền, màu đẹp, ít mối mọt. Quan trọng nhất vẫn là tay nghề và sự kiên nhẫn của người thợ.
“Ngày xưa, xuồng ghe là kế sinh nhai của người miền Tây. Giờ mình làm xuồng mini hay còn gọi là xuồng mỹ nghệ, coi như giữ lại hình ảnh đó cho con cháu sau này”, ông Tốt bộc bạch.
“THỔI HỒN CHO GỖ”
Rời rạch Bà Đài, chúng tôi tìm về xã Lương Hòa Lạc - nơi nghề chạm khắc gỗ vẫn âm thầm tồn tại qua bao thế hệ. Không ồn ào, không náo nhiệt, làng nghề nơi đây giữ một nhịp sống chậm rãi. Trong những xưởng nhỏ, tiếng đục đẽo vẫn đều đặn vang lên như nhịp thở của thời gian.
Nghệ nhân Lê Văn Hùng (Cơ sở chạm Ba Nữ) là một trong những người gắn bó lâu năm với nghề chạm khắc gỗ.
Điểm đặc biệt của nghề chạm khắc gỗ là tính thủ công gần như được giữ nguyên. Từ chọn gỗ, phác thảo, đục phá đến chạm chi tiết…, tất cả đều làm bằng tay.
Có những sản phẩm mất hàng tháng mới hoàn thành. Mỗi đường nét đều đòi hỏi sự chính xác và cảm nhận tinh tế của người thợ.
Nghệ nhân Lê Văn Hùng (Cơ sở chạm Ba Nữ) là một trong những người gắn bó lâu năm với nghề. Hơn 40 năm qua, ông không chỉ tạo ra nhiều sản phẩm tinh xảo, mà còn truyền nghề cho nhiều lớp thợ trẻ.
Ngồi bên khúc gỗ thô, ông Hùng chậm rãi từng nhát đục. Dưới bàn tay chai sần, những đường vân gỗ dần “thức giấc”, hóa thành hoa văn sống động. Từ tượng gỗ, phù điêu đến lục bình, bàn ghế…, mỗi sản phẩm đều mang dấu ấn riêng, không trùng lặp.
"Làm xuồng mini cực hơn xuồng lớn, vì phải tỉ mỉ từng chi tiết. Nhưng làm vậy mới giữ được cái hồn của nghề…”
ông Nguyễn Văn Tốt
Sinh ra trong gia đình có truyền thống chạm khắc, anh Lê Minh Quân (con trai ông Hùng) sớm bén duyên với nghề. Từ nhỏ, anh quen với tiếng đục đẽo, với mùi gỗ mới. Lớn lên, anh quyết định nối nghiệp cha, tiếp tục gìn giữ nghề truyền thống.
Theo anh Quân, để hoàn thành một sản phẩm gỗ đẹp, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn phức tạp. Không chỉ là kỹ thuật, đó là sự sáng tạo và cảm nhận nghệ thuật.
Anh Quân ghi nhớ: “Cha tôi luôn dạy: Nghề này quý lắm, phải biết trân trọng”. Muốn làm được thì phải kiên trì, phải đặt tâm vào từng sản phẩm. Cùng một khúc gỗ, mỗi người làm sẽ ra một sản phẩm khác nhau. Đó là cái hay của nghề thủ công”.
GIỮ NGHỀ - GIỮ CẢ HỒN QUÊ
Điểm chung ở những nghệ nhân là tình yêu nghề và ý thức gìn giữ truyền thống. Họ không chỉ làm để sống, mà còn làm để giữ lại một phần ký ức của quê hương.
Trong bối cảnh hiện đại, nghề truyền thống đối mặt nhiều khó khăn: Thiếu lao động trẻ, thị trường bấp bênh, thu nhập chưa ổn định… Nhưng bằng sự linh hoạt, nhiều người đã tìm cách thích nghi.
"Khách chỉ cần có mẫu hoặc hình ảnh, tôi làm được hết. Làm nghề này không chỉ cần tay nghề, mà phải có tâm.
Có tâm thì sản phẩm
mới có hồn…”
Nghệ nhân LÊ VĂN HÙNG
Người làm xuồng, ghe chuyển sang đóng xuồng, ghe mỹ nghệ phục vụ du lịch; người chạm gỗ nhận làm theo yêu cầu…, những hướng đi mới giúp nghề có thêm “đất sống”.
Quan trọng hơn, họ vẫn đang truyền nghề cho thế hệ sau để không bị “đứt gãy”. Mỗi chiếc xuồng mini, mỗi sản phẩm chạm khắc không chỉ là hàng hóa, mà còn là câu chuyện về văn hóa, về con người miền Tây.
Giữa cuộc sống nhiều đổi thay, những nghệ nhân như: ông Nguyễn Văn Tốt, ông Lê Văn Hùng vẫn ngày ngày miệt mài với nghề. Không ồn ào, không phô trương, họ lặng lẽ giữ lửa.
Họ không chỉ là người làm nghề, mà còn là người gìn giữ văn hóa, truyền lại giá trị cho thế hệ mai sau.
Để rồi, từ những bàn tay chai sần, từ những khúc gỗ vô tri, “hồn nghề” vẫn được gìn giữ, lan tỏa như chính tình đất, tình người trên quê hương Đồng Tháp hôm nay.
SỚM MAI