Bánh nổ của làng bánh Tân Phong (xã Thu Bồn). Ảnh: HỒ QUÂN
Giữ nghề truyền thống
Ở xứ Quảng, có những làng nghề chỉ đỏ lửa khi Tết cận kề. Xuống giống vụ đông xuân xong, họ mới nhóm bếp. Phần lớn người giữ nghề đã luống tuổi. Làm bánh là việc nông nhàn, nhưng giữ nghề lại là câu chuyện của ký ức, của phong tục ngày Tết.
Ở làng Tân Phong (thôn Tân Thọ, xã Thu Bồn) vẫn còn 21 hộ bền bỉ với nghề làm bánh nổ. Thức bánh chỉ từ 3 nguyên liệu: nếp, đường, gừng. Giản dị là vậy, nhưng mỗi nhà lại có một bí quyết riêng, đủ để định hình thương hiệu.
Ông Ngô Đình Hải (làng Tân Phong) nối nghề làm bánh nổ hơn 30 năm. Ông bảo, khó nhất không phải ở công đoạn ép khuôn hay nấu đường, mà ở khâu chọn nếp. Nếp phải là nếp vụ đông xuân - vụ lúa đậm phù sa, đất đai tươi tốt, hạt căng tròn. Khi bung mới nổ to, vỏ trấu dễ tách, hạt nở đều và thơm.
Ông Ngô Đình Hải (thôn Tân Thọ, xã Thu Bồn) thực hiện quy trình ép bánh vào khuôn. Ảnh: HỒ QUÂN
Sau rằm tháng Mười, lò nhà ông Hải lại đỏ lửa. Tiếng nếp nổ lách tách vang lên trong gian bếp, mùi đường thắng ngào ngạt quyện cùng hương gừng như kéo mùa xuân đến gần hơn.
Công thức vẫn vậy: 1 nếp, 1 đường, thêm chút gừng sẻ. Trộn thật đều tay, đưa vào khuôn, nén chặt rồi hong khô trên than củi. Chiếc bánh cứng hay mềm, kết dính vừa đủ hay không, tất cả nằm ở tay nghề nấu đường.
“Cùng sử dụng đường đen truyền thống nhưng mỗi nhà có cách thắng riêng. Độ chín của đường được đo bằng kinh nghiệm tích lũy nhiều năm, qua mùi vị, qua màu sắc…”, ông Hải nói.
Mỗi năm, hộ ông Hải làm khoảng 1 tấn nếp vỏ. Hầu hết công đoạn đều thủ công, lãi không nhiều nên chủ yếu dựa vào công trong nhà. Những ngày cận Tết, các thành viên cặm cụi bên bếp lửa, đến giữa tháng Chạp thì ngưng. Bánh làm ra đều có thương lái đặt mua, có thể bảo quản đến 3 tháng nếu giữ trong túi ni lông.
“Bánh nổ dễ làm. Ngày trước, khi đời sống còn khó khăn, nhà nhà đều tự làm để thờ cúng và dùng trong ngày Tết. Giờ đây, thị trường dù thu hẹp rất nhiều nhưng vẫn có chỗ đứng, bởi giá trị truyền thống gắn với tục thờ ông Táo, cúng ông bà tổ tiên”, ông Hải chia sẻ.
Người dân làng An Lạc (xã Duy Nghĩa) áp dụng máy móc vào quy trình sản xuất bánh in. Ảnh: HỒ QUÂN
Xuôi theo dòng Thu Bồn, về làng nghề bánh kẹo An Lạc (thôn An Lạc, xã Duy Nghĩa), không khí làm bánh Tết rộn ràng từ đầu tháng 11 âm lịch. Đến nay, làng còn 8 hộ giữ nghề, sản xuất nhiều loại bánh phục vụ dịp Tết, chủ lực là bánh in, bánh đậu xanh, bánh lăn.
Hộ ông Đinh Xuân Cầm (thôn An Lạc) năm nay sản xuất khoảng 2 tấn bánh. Trước đây, mọi công đoạn đều thủ công nên khá vất vả. Nay máy móc hỗ trợ khâu nướng, người làm đỡ phần nặng nhọc. Tuy vậy, thị trường ngày càng thu hẹp khi những sản phẩm mới với mẫu mã đa dạng xuất hiện ngày một nhiều.
“Bánh in chỉ làm từ nếp, đường, dân dã, không màu mè, không mẫu mã bắt mắt nên khó cạnh tranh. Nhưng đó là hương vị ngày Tết. Thị trường còn đón nhận thì người làm bánh còn có thêm động lực giữ nghề”, ông Cầm chia sẻ.
Nâng tầm vị bánh quê
Bánh đậu xanh là loại bánh truyền thống của người dân Hội An. Nhờ du lịch phát triển, thị trường ngày càng mở rộng, người làm bánh có thể duy trì sản xuất hằng ngày để phục vụ du khách. Bánh làm ra, bày bán ngay tại nhà. Mùi bánh nướng thơm phức lan khắp tuyến phố, kéo du khách ghé lại.
Bà Lê Thị Luận (đường Lê Lợi, phường Hội An) đóng gói bánh đậu xanh theo phương pháp thủ công. Ảnh: HỒ QUÂN
Bà Lê Thị Luận (số 15, đường Lê Lợi, phường Hội An) đã nối nghiệp gia đình hơn 40 năm. Bánh đậu xanh Hội An có nhân thịt và phải nướng bằng than mới giữ trọn hương vị. Bánh được làm từ sáng sớm, đóng gói vào đầu giờ chiều mỗi ngày.
“Ngày Tết, bánh đậu xanh là món quà được người dân Hội An gửi tặng người thân làm ăn xa. Chiếc bánh gói trọn vị quê, thưởng thức cũng sẽ nguôi ngoai nỗi nhớ nhà”, bà Luận chia sẻ.
Ở khu vực An Thắng, Điện Bàn Tây, Hòa Vang, bánh khô mè là đặc sản ngày Tết. Nguyên liệu chỉ gồm bột gạo, đường, mè, gừng nhưng chế biến rất kỳ công. Người dân gọi là bánh “bảy lửa”, bởi phải qua 7 lần trên ngọn lửa mới thành hình, từ hấp, nướng đến nấu đường…
Bánh khô mè ngày Tết. Ảnh: HỒ QUÂN
Tại khối phố Phong Nhị, phường An Thắng có 4 lò sản xuất bánh khô mè trong cùng một gia đình. Trẻ nhất nhưng làm ăn quy mô và sôi nổi nhất là vợ chồng anh Lê Trung Phong, chị Phan Thị Ly.
Nối nghiệp từ năm 2014, vợ chồng anh Phong đầu tư máy móc thay thế một số công đoạn thủ công; tham gia OCOP để khẳng định uy tín, thương hiệu và mở rộng thị trường. Hiện nay, sản phẩm bánh khô mè của hộ kinh doanh này đạt chuẩn 3 sao OCOP.
Anh Phong chia sẻ, trước đây người dân trong vùng thường tự làm bánh khô mè dùng trong dịp Tết. Song quy trình vất vả nên số người giữ nghề không còn nhiều. Từ khi phát triển sản phẩm theo định hướng OCOP, bánh khô mè của gia đình không còn là bánh “vụ Tết” mà được sản xuất quanh năm, phục vụ nhu cầu thị trường trong và ngoài thành phố.
“Thời điểm Tết, hàng hóa vẫn sôi động nhất. Sau vụ đông xuân, chúng tôi mua và tích trữ gạo xiệc - một giống lúa quê lâu đời, phù hợp để làm bánh. Đến tháng 10 thì bắt đầu chuẩn bị nguyên liệu.
Để bảo đảm cung ứng, phải thuê 7-8 nhân công, tất cả phải cứng nghề mới đảm đương được các công đoạn phức tạp. Cả xưởng tăng ca liên tục đến sau rằm tháng Chạp thì ngưng, bắt đầu xuất bán”, anh Phong chia sẻ.
Ngày Tết, quây quần bên tách trà ấm và những chiếc bánh truyền thống, con cháu lại được nghe chuyện xưa bên bếp lửa. Vị ngọt của đường, mùi thơm của nếp, chút cay của gừng… không chỉ là hương vị, mà còn là ký ức. Từ những chiếc bánh mộc mạc ấy, con cháu thêm trân quý thành quả lao động và có thêm động lực trong năm mới.
HỒ QUÂN