Tết đang đến thật gần. Ảnh: ST
Tết trong ký ức tôi không bắt đầu bằng khoảnh khắc giao thừa hay tiếng chúc tụng đầu xuân, mà đến sớm hơn, từ những buổi chiều cuối năm, khi nồi bánh chưng lục bục sôi trên bếp củi, khi mẹ bắt đầu chuẩn bị nấu chè kho - món ăn giản dị nhưng không thể thiếu trong mâm cỗ Tết của gia đình.
Cứ đến 28, 29 Tết, mẹ lại chuẩn bị đồ để làm món chè kho ăn trong mấy ngày Tết cho đỡ ngán, cũng là một thứ ngon để bày cúng gia tiên. Kỳ thực, tôi chưa được nếm qua món chè nào mà mộc mạc mà dịu ngọt như món chè kho của mẹ. Đưa miếng chè vào miệng, cảm giác cả một bầu trời tuổi thơ tan hòa vào cùng vùng ký ức xa xưa, nơi đó có đứa bé con khẳng khiu, quấn quít bên mẹ nấu chè kho cuối năm…
Làm chè kho là một việc không thể hấp tấp. Mẹ thường chọn đậu xanh rất kỹ, hạt phải đều, mẩy, vàng tươi. Mẹ bảo, chè kho muốn ngon thì đậu phải đều hạt, không lẫn, không vụn, bởi đó là cái nền đầu tiên của món ăn tưởng chừng rất đỗi bình dị này. Đậu được vo đi vo lại nhiều lần cho thật sạch, rồi ngâm no nước cho nở mềm. Để ráo nước, mẹ rắc chút muối, trộn đều với đậu trước khi đem đi đồ để cho đằm vị. Công đoạn ấy không có gì cầu kỳ, nhưng mẹ luôn làm chậm rãi, cẩn thận. Khi đậu được đem đồ chín bằng hơi nước, căn bếp bắt đầu mờ đi trong làn hơi ấm. Hơi nước bốc lên, thấm vào mái tóc mẹ đã điểm bạc, bám vào khung cửa gỗ cũ kỹ, khiến gian bếp như được phủ một lớp sương mỏng rất Tết.
Đậu chín tới, được đem giã hoặc xay nhuyễn. Mẹ thường giã tay, vừa làm vừa kiểm tra độ mịn. “Đậu phải mịn thì chè mới mượt” - mẹ nói, giọng đều đều như một thói quen đã lặp lại suốt bao năm. Tôi ngồi bên, thấy thời gian như chậm lại trong những ngày cuối cùng của năm cũ.
Đậu giã xong, mẹ lấy miếng đường mía nâu thẫm, đã được cô lại thành phên to bằng viên gạch, nạo thành từng lát mỏng tơi. Lát nạo càng mỏng thì khi đun lên càng nhanh tan, thời gian nấu nướng vì thế mà được rút ngắn lại, mà vẫn bảo đảm giữ được cái ngọt thơm của món ăn thi vị. Bắc nồi đậu lên bếp, thêm đường phên đã nạo, mẹ bắt đầu kho chè. Tôi không bao giờ quên được dáng mẹ ngồi sát bếp, nhẫn nại khuấy đều nồi chè trên bếp lửa liu riu. Mẹ bảo, khi nấu chè kho, không được dừng tay đảo, bởi chỉ cần lơ là một chút, chè sẽ bén đáy, khét mùi, hỏng cả nồi. Lửa không được to, vì chè kho cần thời gian để quánh dần, sánh lại…
Tiếng đũa chạm vào đáy nồi vang lên nhịp nhàng trong gian bếp yên tĩnh. Mùi đậu xanh chín kỹ hòa cùng vị ngọt của đường lan tỏa, không gắt, không nồng, mà trầm ấm, dịu dàng. Với tôi, đây là thứ mùi hương rất riêng của Tết - không rộn ràng như mùi bánh chưng mới vớt, không nồng ngọt như mùi mứt gừng, mà âm thầm, bền bỉ, vấn vương. Bên bếp lửa, mẹ hay kể chuyện Tết xưa, chuyện ông bà, chuyện những năm tháng khó khăn, Tết chỉ có vài món đơn sơ nhưng vẫn cố nấu nồi chè kho để cúng tổ tiên. Mẹ bảo, có bánh chưng, có chè kho là có Tết…
Chè kho, với tôi, không chỉ là món ăn. Đó còn là ký ức, là văn hóa, là nhịp chậm của Tết xưa còn sót lại trong đời sống hôm nay. Ảnh: ST
Chè đặc dần, sánh lại, tỏa ra mùi thơm ngọt dịu rất riêng. Mẹ nhanh tay nhấc nồi xuống, đơm chè ra đĩa rồi rắc một lớp vừng rang thơm lừng. Màu vàng ruộm của vừng nổi bật trên nền màu chè nâu thẫm, điểm xuyết thêm một nét hoàn chỉnh cho món ăn.
Tôi khi ấy thường ngồi bên, chực chờ được vét nồi, cạo cháy chè. Cái háo hức của một đứa trẻ không nằm ở miếng chè được bày ra đĩa ngay ngắn trên bàn, mà ở phần còn lại dưới đáy nồi - nơi lửa đã kịp in dấu bằng một lớp cháy mỏng, sẫm màu, thơm nức. Chỉ cần nghe tiếng mẹ nhấc nồi khỏi bếp, tôi đã khẽ dịch lại gần hơn, cầm sẵn chiếc thìa nhỏ, lòng thấp thỏm như sợ ai đó tranh mất. Ăn một thìa nhỏ mà thấy Tết như ở ngay đầu lưỡi, thấy niềm vui giản dị của trẻ thơ được gói ghém trọn vẹn trong khoảnh khắc chờ đợi khó quên…
Đĩa chè kho được dâng lên ban thờ tổ tiên, bên cạnh bánh chưng, mâm ngũ quả, lọ hoa cúc vàng… Nhẹ nhàng, không cần trang trí cầu kỳ, món ăn giản dị này luôn là một phần không thể thiếu trong mâm cỗ Tết của gia đình tôi, như lời nhắc nhở về sự đủ đầy, no ấm và sự gắn kết giữa các thế hệ.
Ngày mùng Một, khi khách đến nhà, mẹ cắt chè kho thành từng miếng tam giác, bày ra đĩa. Chè kho không phải món để ăn nhiều, mà để nhâm nhi, để trò chuyện, để mở đầu câu chuyện đầu năm. Ăn một miếng chè, nhấp một ngụm trà, cảm nhận cái dư vị thơm bùi, ngọt ngào đan quyện trong vị thanh mát, mới thấy được cái tinh túy của đất trời giao hòa trong buổi đầu xuân và tấm chân tình của người chủ nhà mến khách.
Giờ đây, mâm cỗ Tết có thể đủ đầy hơn, tiện lợi hơn, nhưng mỗi lần nhìn thấy đĩa chè kho, tôi vẫn thấy Tết trở về theo cách rất riêng. Chè kho, với tôi, không chỉ là món ăn. Đó còn là ký ức, là văn hóa, là nhịp chậm của Tết xưa còn sót lại trong đời sống hôm nay…
Ngoài kia lao xao, Tết đang đến thật gần. Tầm này ở nhà, chắc mẹ đang lẩn mẩn trong căn bếp quen, lựa lại từng hạt đậu xanh, cân thêm chút đường mía, chuẩn bị để nấu nồi chè kho như bao năm. Để rồi, khi những đứa con xa trở về, trong gian nhà đã ấm lên bóng cha, dáng mẹ, với mùi hương thân thuộc rất khẽ - hương vị Tết xưa…/.
PHÚ THÀNH