Gỡ điểm nghẽn tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa

Gỡ điểm nghẽn tiếp cận tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
một giờ trướcBài gốc
Hơn 90% SMEs khó vay vốn ngân hàng
Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng 2 con số từ năm 2026, ngành Ngân hàng đang nỗ lực thúc đẩy dòng vốn vào nền kinh tế.
Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Phạm Thanh Hà khẳng định, ngành Ngân hàng đóng vai trò là "huyết mạch", có trách nhiệm phân bổ nguồn lực hiệu quả để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh, tuy nhiên, ông Phạm Thanh Hà cũng thẳng thắn thừa nhận: “Nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV - SMEs), vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng”.
Bổ sung số liệu chứng minh, bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN) cho bíet đến cuối tháng 4/2026, dư nợ nền kinh tế đạt trên 19,4 triệu tỷ đồng, tăng hơn 18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tín dụng cho khu vực SMEs đạt gần 3,8 triệu tỷ đồng. Dù con số này chiếm khoảng 20% tổng dư nợ, nhưng nếu so với vai trò đóng góp vào GDP và số lượng áp đảo của khối SMEs trong nền kinh tế, tỷ trọng này vẫn chưa tương xứng với nhu cầu thực tế.
Quỹ bảo lãnh tín dụng hỗ trợ DNNVV tiếp cận vốn ngân hàng.
Báo cáo về triển vọng tín dụng SMEs do FiinGroup công bố năm 2025 cho thấy khu vực SMEs chiếm khoảng 95% tổng số doanh nghiệp tại Việt Nam nhưng chỉ đóng góp trực tiếp dưới 20% doanh thu và dưới 10% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu.
Một trong những nguyên nhân cơ bản là khả năng tiếp cận vốn của SMEs còn rất thấp. Chỉ khoảng 9,3% SMEs có thể vay vốn từ ngân hàng, trong khi tỷ lệ này ở doanh nghiệp lớn lên tới 56,1%.
Sở dĩ nhóm DNNVV khó tiếp cận vốn tín dụng, theo kết quả phân tích của FiinGroup, khoảng 60% doanh nghiệp lớn nằm trong nhóm có rủi ro tín dụng thấp, ngược lại, có tới hơn 70% SMEs rơi vào các nhóm rủi ro tín dụng trung bình đến cao. Nói cách khác, doanh nghiệp càng nhỏ thì xác suất gặp rủi ro tài chính, bao gồm cả nguy cơ vỡ nợ, càng cao. Điều này cũng lý giải vì sao các ngân hàng thường thận trọng hơn khi cho vay đối với khu vực SMEs so với doanh nghiệp lớn.
Nâng cao vai trò quỹ bảo lãnh tín dụng
Phân tích về những khó khăn trong quá trình tiếp cận tín dụng của khối DNNVV, GS.TS Hoàng Văn Cường chỉ ra năm điểm nghẽn chính khiến DNNVV khó tiếp cận vốn tín dụng. Đó là yếu về tài sản bảo đảm, hạn chế về minh bạch thông tin, khó chứng minh dòng tiền, mức độ rủi ro cao, trong khi đối với ngân hàng, việc thẩm định mất thời gian mà lợi nhuận lại thấp hơn nhiều so với khoản vay của doanh nghiệp lớn - tức là bài toán chi phí của ngân hàng.
“Ngân hàng không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp mà còn phải đảm bảo an toàn cho toàn hệ thống tài chính. Nguồn vốn cho vay chủ yếu được huy động từ người dân, nên yêu cầu bảo toàn vốn luôn được đặt lên hàng đầu. Các chuẩn mực quốc tế như Basel buộc ngân hàng kiểm soát chặt rủi ro, khiến việc nới lỏng điều kiện tín dụng không thể thực hiện một cách đơn giản. Việc áp dụng “thước đo chung” về tài sản bảo đảm, minh bạch thông tin và quản trị rủi ro vì thế vô hình trung tạo lợi thế cho doanh nghiệp lớn, đồng thời đặt SMEs vào thế bất lợi”, ông Cường phân tích.
Từ góc độ triển khai trực tiếp, chia sẻ về công tác thẩm định tín dụng đối với khối DNNVV, Giám đốc trung tâm xử lý nợ của một ngân hàng cho biết ngân hàng có thể mất gần như cùng một lượng nhân sự và thời gian để xử lý một khoản vay 1 tỷ đồng cho SMEs và một khoản vay 100 tỷ đồng cho doanh nghiệp lớn.
Để ra quyết định cho vay, ngân hàng vẫn phải làm gần như cùng một quy trình: thu thập hồ sơ, thẩm định báo cáo tài chính, đánh giá dòng tiền, kiểm tra tài sản bảo đảm, phê duyệt tín dụng, giải ngân, giám sát sau vay và xử lý rủi ro nếu phát sinh. Khi chi phí xử lý được chia trên quy mô khoản vay, khoản vay nhỏ trở nên đắt hơn nhiều. Vì vậy, xét theo lợi nhuận trên mỗi giờ thẩm định hoặc mỗi hồ sơ tín dụng, SMEs kém hấp dẫn hơn.
Giữa bối cảnh đầy thách thức, mô hình của Agribank nổi lên như một điểm sáng về việc dẫn vốn vào các lĩnh vực khó. Ông Vương Văn Quý, Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank chia sẻ, đến nay, dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn của ngân hàng đạt 1,3 triệu tỷ đồng, phục vụ hơn 2,7 triệu khách hàng.
"Kinh nghiệm của Agribank cho thấy, để doanh nghiệp và ngân hàng "tìm thấy nhau", không chỉ cần lãi suất thấp mà cần sự đồng hành thực chất. Đó là việc gắn cấp tín dụng với quản lý dòng tiền, chuyển dịch sang tín dụng xanh và nông nghiệp công nghệ cao. Đây chính là "chìa khóa" để vừa mở rộng quy mô, vừa kiểm soát được nợ xấu trong bối cảnh rủi ro thiên tai, dịch bệnh luôn rình rập", ông Quý chia sẻ.
Trong khi đó, GS Hoàng Văn Cường cho rằng để cải thiện khả năng tiếp cận vốn, cần có điều chỉnh từ cả hai phía. Về phía ngân hàng, cần phát triển các phương thức cấp tín dụng linh hoạt hơn, phù hợp với đặc thù của SMEs. Về phía doanh nghiệp, cần nâng cao năng lực quản trị, minh bạch hóa thông tin và chuẩn hóa hoạt động để đáp ứng các tiêu chí tín dụng. Ngoài ra, SMEs cũng cần đẩy mạnh chuyển đổi số, đảm bảo dữ liệu minh bạch và sẵn sàng kết nối dữ liệu với ngân hàng.
Một công cụ quan trọng khác là quỹ bảo lãnh tín dụng. Đây là cơ chế trung gian giúp giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp không có tài sản bảo đảm tiếp cận vốn. Về nguyên tắc, quỹ sẽ cam kết thanh toán thay trong trường hợp doanh nghiệp không trả được nợ, qua đó gia tăng niềm tin của tổ chức tín dụng, đặc biệt với nhóm doanh nghiệp có hồ sơ tài chính chưa đầy đủ hoặc năng lực quản trị còn hạn chế.
“Từ thực tế trên, để cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng của SMEs, cần một cách tiếp cận đồng bộ: đổi mới phương thức cấp tín dụng, thúc đẩy chuyển đổi số doanh nghiệp, hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả các công cụ hỗ trợ. Chỉ khi đó, khu vực doanh nghiệp này mới có thể phát huy đầy đủ vai trò là động lực quan trọng của nền kinh tế”, GS Cường phân tích.
Hà An
Nguồn CAND : https://cand.com.vn/kinh-te/go-diem-nghen-tiep-can-tin-dung-cho-doanh-nghiep-nho-va-vua-i805056/