Hà Nội di dời 860.000 người: Sinh kế quyết định thành bại

Hà Nội di dời 860.000 người: Sinh kế quyết định thành bại
2 giờ trướcBài gốc
Thành phố Hà Nội đã từng có các đề án giãn dân trước đây, điển hình là đề án giãn dân phố cổ, nhưng kết quả chưa đạt như kỳ vọng. Theo ông, vì sao diện tích đô thị mở rộng mà mật độ lõi đô thị vẫn không giảm đáng kể? Vấn đề nằm ở nhà ở, việc làm hay cách tổ chức không gian sống?
KTS. Trần Huy Ánh.
KTS. Trần Huy Ánh: Đề án giãn dân khu phố cổ đã chuẩn bị sẵn nhà tái định cư, song người dân không chuyển đến theo tôi vì còn thiếu hạ tầng xã hội và điều kiện sinh kế. Tuy vậy, trong hơn 20 năm qua, dân số khu phố cổ đã giảm khoảng 30–50% nhưng phần lớn dân cư tự ra ngoài. Họ bán nhà chật hẹp trong khu phố cổ để mua nhà rộng rãi hơn ở khu vực bên ngoài. Quá trình giãn cư này thường được điều tiết bằng quan hệ thị trường, công cụ tài chính phát huy tính năng động, khách quan, thay vì các biện pháp hành chính.
Cùng thời gian đó, diện tích đất đô thị Hà Nội đã mở rộng, dữ liệu Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) cho biết diện tích đất đô thị Hà Nội năm 2003 khoảng 122 km² cho tới năm 2023 đã hơn 1.000 km² (đo đạc bằng bản đồ phát sáng Earth Night). Nếu tính cả đô thị vệ tinh theo quy hoạch, thì con số này xấp xỉ 1.500 km², tức tăng gần 12 lần.
Tổng diện tích sàn nhà ở tăng gấp 20 lần, từ 12 triệu m² lên khoảng 240 triệu m², trong khi dân số đô thị chỉ tăng khoảng hai lần (từ 2,3 triệu lên 4,6 triệu người). Sự chênh lệch này đặt ra câu hỏi về cơ cấu sử dụng nhà ở: tỷ lệ phục vụ nhu cầu ở thực so với nhu cầu đầu tư đang phân bổ ra sao? Trong khi đó, tại các làng xóm ven đô (cách trung tâm 5–8 km), nhiều khu dân cư phát triển tự phát, thiếu đồng bộ về hạ tầng và tiêu chuẩn quy hoạch.
Với việc phát triển bất động sản tràn lan thay vì phát triển đô thị theo hướng có kiểm soát và bền vững, Hà Nội đã mở rộng cả bốn phía, nhưng mật độ trung tâm và cận trung tâm không những không giảm mà còn tăng hơn.
Từ thực tế đó, theo ông, Thành phố Hà Nội cần ưu tiên tạo ra những loại hình việc làm hay trung tâm kinh tế nào ở các đô thị mới để người dân sẵn sàng dịch chuyển?
Đây là câu hỏi lớn của kế hoạch giãn dân đô thị, đồng thời cũng là nỗi lo của người dân hiện nay và có thể còn kéo dài trong nhiều năm tới. Thay vì chỉ đặt mục tiêu giãn dân về mặt không gian, theo tôi, vấn đề cốt lõi cần được ưu tiên là xác định cơ hội sinh kế mới trong tương lai cho cư dân đô thị. Chỉ khi nội dung này được bàn thảo một cách sâu sắc và thực chất, quá trình dịch cư và giãn cư mới trở nên khả thi và bền vững.
Mật độ cư trú dày đặc tại khu phố cổ – bài toán giãn dân nội đô đã được đặt ra hơn hai thập niên nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Ảnh: Ashui
Để hình dung ra những ngành nghề mới trong tương lai đòi hỏi nghiên cứu tương lai học công phu: nhiều ngành nghề truyền thống mất đi thay vào đó những nghề mới với sự hỗ trợ công nghệ sẽ thay đổi đáng kể không gian đô thị mới.
Ví dụ như phương tiện di chuyển hiện đại, không người lái cần không gian đa tầng (đi ngầm, đường ống chân không, hành lang riêng, hay bay tầm thấp)… như vậy có cần thiết đường bộ rộng 90-100m? Những ngành nghề dịch vụ mới đòi hỏi kỹ thuật cao thì ngành nghề nào dành cho bà con vốn là nhà nông giàu kinh nghiệm hay khéo tay sản xuất thủ công?
Nhà tái định cư được chuẩn bị sẵn nhưng thiếu hạ tầng xã hội và cơ hội sinh kế khiến nhiều hộ dân không mặn mà chuyển đến. Ảnh: Hoàng Nam
Bên cạnh những thách thức về tiến hóa công nghệ thì những cơ hội đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, tái sinh nguồn nước, tái chế rác thải bằng công nghệ sinh học gắn với sản xuất nông nghiệp hữu cơ… phải chăng chính là cơ hội cho nhiều thế hệ người lao động, đặc biệt là thanh niên nông thôn, đô thị lập nghiệp. Muốn phát triển ngành nghề này thì không gian đất và nước để phát triển cần được ưu tiên hơn những không gian phân lô bán nền.
Các khu đô thị mới như các tổ hợp thể thao quy mô lớn, sân golf hay khu đô thị nghỉ dưỡng không dành cho một số lượng lớn lao động đã đành, thậm chí còn làm mất đi công việc mưu sinh hàng ngày vì đất sản xuất nông nghiệp đã chuyển cho đô thị. San lấp đất nông nghiệp tùy tiện còn dẫn đến nguy cơ phá hủy thủy lợi nội đồng, đất không có nước rồi cũng thành đất hoang.
Nhìn các bản vẽ quy hoạch mới hiện nay hầu hết là bất động sản thương mại, thậm chí có bản vẽ còn không có cả tiện ích đô thị đi cùng (như công viên, chợ dân sinh, trường học, nhà trẻ hay các trung tâm hoạt động cộng đồng công cộng…). Nó cho thấy các đơn vị tư vấn chưa đề cập tới cơ hội sinh kế cho cư dân tương lai cũng như tại chỗ. Điều này tiềm ẩn nhiều rủi ro. Bởi nếu không trả lời được những câu hỏi căn bản như: quy hoạch nơi định cư mới để làm gì, ai sẽ sống ở đó và họ sống bằng gì, thì các khu đô thị mới khó tránh khỏi nguy cơ thất bại.
Sinh kế gắn với kinh doanh nhỏ và đời sống đường phố là yếu tố khiến nhiều cư dân phố cổ không dễ dàng rời đi. Ảnh: Báo Nhân Dân
Nhiều chuyên gia cho rằng metro và giao thông công cộng chính là “xương sống” của giãn dân. Theo ông, vì sao nếu thiếu kết nối thuận tiện với trung tâm, mọi nỗ lực giãn dân đều khó bền vững?
Hệ thống giao thông đô thị là hệ thống giao thông đa phương tiện, bao gồm nhiều loại hình, trong đó có metro. Tuy nhiên, hiện nay có xu hướng đồng nhất giao thông đô thị thân thiện với việc phát triển metro. Metro không những là sự đầu tư đắt tiền mà duy trì vận hành phải tính toán kĩ, với khoảng 20% giá trị xây dựng và 80% giá trị vận hành. Nếu đặt cược vào metro thì xảy ra kịch bản dễ bị tổn thương. Do vậy, Hà Nội cần xây dựng hệ thống đa phương tiện làm sao đi lại thuận tiện với chi phí thấp.
Các nước như Nhật Bản, Pháp, Hàn Quốc, thậm chí cả Mỹ cũng xây dựng hệ thống giao thông đô thị bao gồm phương tiện từ thô sơ cho đến hiện đại. Các thành phố thành công nhờ xây dựng hệ thống giao thông công cộng thông minh, hiệu quả, chứ không phải nhập khẩu đắt tiền. Giao thông vừa là phương tiện nhưng cũng là cơ hội sinh kế cho cư dân thành phố đó.
Hệ thống giao thông đa phương tiện, chi phí thấp và linh hoạt mới là nền tảng cho một đô thị bền vững. Ảnh: CTV
Có ý kiến cho rằng: nếu chỉ xây nhà mà không tạo việc làm, đô thị mới sớm muộn cũng thành đô thị ngủ. Ông có đồng tình với nhận định này không?
Người ta còn gọi đó là “đô thị ma”, tức đô thị không có ai đến ở. Không nằm ở phạm vi ban ngày bật đèn, buổi tối về ngủ, “đô thị ma” ám chỉ trạng thái tê liệt từ năm này sang năm khác, thậm chí hàng chục năm. Điều đó làm gia tăng gánh nặng về hạ tầng, bởi vì kéo theo khu đất mới và con đường giao thông tới đô thị đó. “Đô thị ma” không khai thác được quỹ đất, gây tốn kém cho người có tài sản. Bởi vì không ở được nên sinh ra dịch vụ cho thuê hay các hoạt động lưu trú.
Thực tế, đã từng xuất hiện nhiều khu đô thị không có người ở, tọa lạc bên rìa khu đại học hay làng xóm cũ được tái dụng vào hoạt động lưu trú với giá phải chăng. Điều này giúp giảm đi gánh nặng về gia tăng đầu tư hạ tầng xã hội, làm cho nền kinh tế của xã hội không phải đầu tư quá lớn để xây dựng đô thị mới.
Người Hà Nội, nhất là cư dân phố cổ, quen với nhịp sống gắn với kinh doanh nhỏ và không gian cộng đồng mở. Khi chuyển sang các khu chung cư cao tầng khép kín, theo ông liệu có xảy ra cú sốc văn hóa?
Năm 1965 quanh phố tôi ở (phố Bà Triệu – PV) có nhiều gia đình được thành phố hỗ trợ đi lên các vùng trung du Bắc bộ làm kinh tế mới để sản xuất nông nghiệp. Sau 1-2 năm, tất cả họ quay về phố, sau khi nguồn hỗ trợ lương thực cạn kiệt. Thực tế đó cho thấy, di dân chỉ bền vững khi đi kèm điều kiện sống và sinh kế ổn định. Người dân Hà Nội đều có khả năng thích ứng nhanh với những điều kiện sống tốt hơn: hạ tầng tiện nghi hơn, nhiều cơ hội hưởng thụ và sinh kế hơn, triển vọng phát triển rõ ràng hơn.
Vì vậy, vấn đề không nằm ở việc người dân có chịu thay đổi hay không, mà ở chỗ chúng ta đừng đi ngược lại tiến trình phát triển tự nhiên ấy. Nếu các khu ở mới khiến cuộc sống trở nên vất vả hơn, khó khăn hơn, ít cơ hội hơn so với nơi cũ, thì việc người dân không mặn mà di chuyển là điều dễ hiểu. Ngược lại, khi những không gian đô thị mới mang lại chất lượng sống cao hơn và cơ hội phát triển rõ ràng hơn, người dân sẽ thích ứng rất nhanh và chủ động dịch chuyển.
Đô thị đáng sống không chỉ đo bằng hạ tầng hiện đại, mà còn ở khả năng duy trì sinh kế nhỏ và đời sống cộng đồng đường phố. Ảnh: Báo Nhân Dân
Có phải một đô thị đáng sống không chỉ được đo bằng mật độ cây xanh hay hạ tầng hiện đại, mà còn ở khả năng duy trì sinh kế nhỏ, quan hệ cộng đồng và đời sống đường phố?
Một đô thị đáng sống đầu tiên là người dân có thể an cư bằng việc làm có phẩm giá, sau đó là tình thân hữu xóm giềng, hạ tầng giao thông thuận tiện và các không gian công cộng, hạ tầng xã hội khác đáp ứng tùy theo điều kiện kinh tế. Mối quan hệ thân hữu láng giềng cần được thiết lập trên cơ sở có cuộc sống đầy đủ. Nếu mưu sinh quá vất vả thì những cái còn lại, tôi cho rằng, cũng chỉ là xa xỉ.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Minh Trang thực hiện
Nguồn Người Đô Thị : https://nguoidothi.net.vn/ha-noi-di-doi-860-000-nguoi-sinh-ke-quyet-dinh-thanh-bai-51859.html