Nụ cười viên mãn của vợ chồng ông Du, bà Niên khi đã ngoài 90 tuổi.
Ông Du và bà Niên là người cùng làng. Hai người đã quen biết nhau trong những buổi sinh hoạt thanh, thiếu niên của làng, xã. Chàng thanh niên Lê Văn Du khi ấy khỏe mạnh, nhanh nhẹn, hăng hái trong các hoạt động phong trào. Còn cô gái Vũ Thị Niên với ngoại hình xinh xắn, tính cách hiền lành, dễ mến khiến không ít chàng trai trong làng xao xuyến. “Hai vợ chồng chúng tôi còn đóng kịch chung với nhau. Nhưng lúc đó chưa nghĩ đến chuyện yêu đương, tình cảm gì đâu”, ông Du vui vẻ kể. Ở bên cạnh, khóe môi bà Niên cũng nở nụ cười mãn nguyện.
Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp sục sôi. Trước sự gia tăng lực lượng và thế trận của quân Pháp ở Điện Biên Phủ, ngày 6/12/1953, Hội nghị Bộ Chính trị dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thông qua kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng Tư lệnh và quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ.
Thanh Hóa là địa bàn xa trận địa, đường sá đi lại vô cùng khó khăn, nhưng lại là một trong những địa phương huy động cao nhất mọi khả năng để phục vụ chiến dịch, đồng thời huy động lực lượng đảm bảo cho bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương bẻ gãy các cuộc hành quân của địch vào bắc Thanh Hóa và tây nam Ninh Bình.
Lịch sử đã đặt lên vai dân tộc Việt Nam nói chung, mảnh đất xứ Thanh nói riêng những sứ mệnh đặc biệt. Cũng như lớp lớp thế hệ thanh niên lúc bấy giờ, tuổi trẻ của ông Du, bà Niên lớn lên cùng tiếng gọi non sông. Khi chiến dịch Điện Biên Phủ bước vào giai đoạn quyết liệt, ông Du lên đường tham gia lực lượng thanh niên xung phong (TNXP), bà Niên trở thành dân công hỏa tuyến. “Từ khắp mọi miền quê Thanh, chúng tôi tập kết ở Thọ Xuân (cũ) rồi cứ thế nườm nượp hành quân theo hướng Tây Bắc, ngày nghỉ, đêm đi để tránh máy bay địch lùng sục, bắn phá”, ông Du cho biết.
Đúng như tên gọi, lực lượng TNXP mang trong mình ý chí, quyết tâm cao độ không quản bất kỳ khó khăn, gian khổ với mục tiêu cao nhất là phục vụ kháng chiến đến ngày thành công. Ông Du đã cùng đồng chí, đồng đội vượt qua những cơn sốt rét run người. Mưa gió không màng, nắm cơm ăn vội, căng bạt ngủ ngay bên đường. Thế mà lòng người vẫn phơi phới, ý chí không sờn, nhịp bước kiên định tiến về phía trước.
Đường tới Điện Biên Phủ ngày càng gần, nhiều trọng điểm như ngã ba Cò Nòi (Sơn La), đèo Pha Đin (Điện Biên) bị quân địch bắn phá suốt ngày đêm nhưng không thể cản bước quân ta tiến về phía trước với ý chí, quyết tâm: “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”. TNXP khi ấy là lực lượng “vá đường trong lửa”, cứ hết bom rơi là họ lại có mặt lập tức để san lấp hố bom, thông đường cho xe qua.
Trong khi ông Du cùng lực lượng TNXP kiên trì san lấp từng hố bom, mở từng tuyến đường... thì giữa núi rừng Tây Bắc thăm thẳm, bà Niên cũng hăng hái cùng lực lượng dân công hỏa tuyến kịp thời tiếp lương, tải đạn phục vụ chiến trường. “Lúc đó, chúng tôi chẳng nghĩ gì nhiều ngoài niềm mong mỏi sớm tiếp tế lương thực, thực phẩm, đạn dược để bộ đội yên tâm đánh giặc. Hoàn cảnh chiến tranh ngặt nghèo, công việc vất vả, sống chết không biết trước nhưng ai ai cũng giữ trọn niềm tin về ngày thắng lợi nên khí thế làm việc hăng say”, bà Niên tâm sự.
Ngồi nhìn lại bức ảnh thời trẻ, ông Lê Văn Du, bà Vũ Thị Niên (thôn Đạt Tiến 2, xã Thắng Lợi) xúc động nhớ về những tháng ngày cả hai cùng tham gia phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ (1954).
Giữa những đoàn người ngược núi ấy, ông Du và bà Niên cùng sống và phục vụ chiến đấu dưới bầu trời Điện Biên, cùng nghe tiếng pháo vọng từ lòng chảo Mường Thanh nhưng tính chất công việc, nhiệm vụ khác nhau nên hai người chưa một lần gặp gỡ. Nhưng chính họ cùng quân và dân Thanh Hóa đã đóng góp sức mình để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông Du tiếp tục cùng đơn vị nhận nhiệm vụ xây dựng con đường từ tỉnh Lai Châu sang tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Ở nơi xa ấy, ông chưa từng nghĩ sẽ có người con gái nào đó chờ đợi mình. Nhưng bà Niên thì khác, bà đã cảm mến chàng trai cùng làng hiền lành, chân chất ấy từ lúc nào không hay. Những ngày từ chiến trường Điện Biên Phủ trở về, bà Niên vẫn đều đặn qua lại nhà ông Du, phụ giúp gia đình việc đồng áng, chăm nom công việc thường ngày. Từ tình cảm mộc mạc, chân thành ấy, năm 1957, hai người nên vợ nên chồng, xây dựng mái ấm riêng.
Cuộc sống sau này vẫn nhiều khó khăn. Cũng trong năm 1957, ông Du về phục viên, trải qua nhiều công việc, vị trí công tác tại địa phương. Năm 1965, ông đảm nhận chức vụ C trưởng TNXP tham gia xây dựng Sân bay Sao Vàng (nay là Cảng Hàng không Thọ Xuân). Ông cũng từng làm công tác dân vận trong những ngày chiến tranh biên giới phía Bắc năm 1979... Nhưng trước mọi biến động, ông Du, bà Niên vẫn luôn nương tựa vào nhau, tin tưởng, động viên nhau mạnh mẽ bước về phía trước. Bà Niên tảo tần vun vén gia đình, chăm sóc mẹ già và các con đương tuổi ăn, tuổi lớn. Ông Du nghẹn ngào nói: “Cả cuộc đời, bà ấy đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, vai trò hậu phương”.
Và để đền đáp lại sự vất vả, hy sinh của “hậu phương lớn”, ông Du không ngừng nỗ lực trên mặt trận kinh tế. Bằng sự nhanh nhạy và tinh thần không ngại khó, ông mạnh dạn mở xưởng mộc, có thời điểm tạo việc làm cho 6 - 7 lao động rồi chuyển sang làm xưởng gạch, cung ứng các dịch vụ nông nghiệp... đều đạt kết quả đáng ghi nhận. Nhiều năm liền ông được nêu gương người cao tuổi sản xuất giỏi của xã, huyện (cũ), có năm được tuyên dương cấp tỉnh...
Giờ đây, trên mảnh đất quê hương, ông Du, bà Niên vui hưởng tuổi già bên con cháu. Ký ức cuộc đời nhiều khi không còn nguyên vẹn nhưng mỗi lần nhắc về Điện Biên Phủ, ánh mắt ông bà vẫn sáng lên như trở lại về tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, kiên cường. Có lẽ, bí quyết hạnh phúc giữa ông Du và bà Niên không đơn thuần là sự thủy chung, son sắt của tình yêu đôi lứa mà còn là sự đồng điệu của hai tâm hồn - một khí phách Điện Biên không phai.
Bài và ảnh: Thảo Linh