Xâm nhập mặn gia tăng, áp lực lớn cho ĐBSCL
Theo số liệu quan trắc của ngành khí tượng thủy văn, trong mùa khô 2025–2026, ranh giới xâm nhập mặn trên các sông chính khu vực ĐBSCL đã xâm nhập khá sâu vào nội đồng.
Tại hệ thống sông Cửa Đại, Hàm Luông, Cổ Chiên và sông Hậu, ranh mặn 4‰ – mức độ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp – đã lấn sâu 41,4 đến 50,6 km tính từ cửa sông. Trong khi đó, ranh mặn 1‰ - ngưỡng ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt - có thể xâm nhập 47,8 đến 64km vào nội địa.
Cụ thể, trên sông Cổ Chiên, ngày 18.3, ranh mặn 4‰ được ghi nhận xâm nhập đến khu vực các xã Nhuận Phú Tân, Nhị Long và Trung Ngãi, cách cửa sông hơn 50km. Trên sông Hậu, ranh mặn đã tiến sâu đến khu vực xã An Phú Tân.
Cống ngăn mặn ven sông Tiền ở Đồng Tháp - Ảnh: B.T.T
Trong khi đó, ranh mặn 1‰ trên một số tuyến sông thậm chí đã lấn sâu hơn 60km vào nội đồng, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến các hệ thống cấp nước sinh hoạt nếu không được kiểm soát chặt chẽ.
Các chuyên gia nhận định trong những tháng cao điểm mùa khô, đặc biệt từ tháng 3 đến tháng 4, độ mặn có thể tiếp tục tăng khi triều cường kết hợp với lượng nước từ thượng nguồn sông Mekong giảm. Dự báo trong kịch bản bất lợi, ranh mặn 4‰ có thể xâm nhập sâu 46,2–58,8km, trong khi ranh mặn 1‰ có thể tiến sâu 55,6–71,4km tính từ cửa sông.
Vĩnh Long chủ động nhiều giải pháp ứng phó
TS. Văn Hữu Huệ - Phó giám đốc Sở Nông nghiệp & Môi trường (NN&MT) tỉnh Vĩnh Long - cho biết: “Trước diễn biến xâm nhập mặn ngày càng phức tạp, tỉnh Vĩnh Long đã chủ động triển khai nhiều biện pháp nhằm hạn chế thiệt hại đối với sản xuất và sinh hoạt của người dân.”
Cà Mau bước vào mùa hạn mặn - Ảnh: B.L.Đ
Ngay từ cuối năm 2025, chính quyền tỉnh đã ban hành kế hoạch phòng chống hạn hán và xâm nhập mặn cho mùa khô 2025–2026, đồng thời phân công cụ thể nhiệm vụ cho từng ngành, từng địa phương.
Các cơ quan chức năng cũng thường xuyên cập nhật thông tin về tình hình xâm nhập mặn thông qua hệ thống truyền thông, website và các nhóm thông tin cộng đồng để người dân kịp thời nắm bắt và chủ động ứng phó.
Song song đó, hệ thống quan trắc độ mặn được tăng cường với 22 điểm đo mặn cố định, kết hợp với số liệu từ các trạm khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ nhằm theo dõi sát diễn biến nguồn nước.
Tại các công trình thủy lợi đầu mối và cửa lấy nước, các đơn vị quản lý cũng tổ chức đo mặn thường xuyên để kịp thời điều chỉnh việc vận hành cống, đập. Ngành nông nghiệp địa phương cũng khuyến cáo nông dân kiểm tra độ mặn trước khi lấy nước vào ruộng, vườn, đặc biệt tại các vùng chuyên canh cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản.
Nhiều hộ dân đã chủ động trang bị máy đo mặn cầm tay để kiểm tra chất lượng nguồn nước trước khi sử dụng, giúp hạn chế rủi ro cho cây trồng và vật nuôi.
Nhiều công trình thủy lợi phát huy hiệu quả
Tại khu vực ĐBSCL, nhiều công trình thủy lợi lớn đã phát huy hiệu quả trong việc điều tiết nguồn nước, đặc biệt là các hệ thống trữ ngọt như sông Ba Lai, trục dẫn ngọt Cái Hàng – Sa Kê, Trung Nhuận – Xẻo Rắn và hồ chứa Kênh Lấp.
Ngoài các công trình đã hoàn thành, nhiều dự án thủy lợi quan trọng cũng đang được đẩy nhanh tiến độ nhằm tăng cường khả năng kiểm soát mặn cho khu vực. Trong đó có các dự án đê bao ngăn mặn ven sông Hàm Luông, hệ thống thủy lợi Bắc – Nam Bến Tre và dự án cống Vàm Cái Mơn.
Đối với lúa đã trổ đòng, hạn mặn không ảnh hưởng - Ảnh: B.L.Đ
Các công trình này khi hoàn thành sẽ góp phần tăng khả năng kiểm soát mặn, bảo vệ sản xuất nông nghiệp và nguồn nước sinh hoạt cho hàng trăm nghìn hộ dân trong khu vực.
Phó giám đốc Sở NN&MT TP.Cần Thơ Nguyễn Tấn Nhơn cho biết: “So với năm 2023, tình hình hạn mặn năm nay không đáng ngại. Nước ngọt ở thượng nguồn sông Mekong còn nhiều, cho đến giờ này tình hình hạn mặn trên địa bàn được quan tâm theo dõi và kiểm soát".
Cà Mau, Kiên Giang căng mình chống hạn mặn
Trong khi đó, tại các tỉnh ven biển như Cà Mau và Kiên Giang, xâm nhập mặn đang gây ra nhiều thách thức lớn cho sản xuất và đời sống của người dân.
Tại Cà Mau – địa phương duy nhất của cả nước có ba mặt giáp biển và không có nguồn nước ngọt bổ sung từ sông Hậu – độ mặn 4‰ đã xâm nhập sâu vào các hệ thống kênh rạch nội đồng.
Tình trạng sụt lún, sạt lở đất do mực nước dưới kênh xuống thấp cũng đang ở mức báo động. Tại xã Trần Văn Thời, ghi nhận hàng trăm điểm sạt lở, nhiều tuyến đường bị hư hỏng nghiêm trọng. Ở vùng ngọt hóa U Minh Hạ, mực nước dưới các kênh dưới tán rừng tràm đang bốc hơi nhanh, làm gia tăng nguy cơ cháy rừng ở cấp cực kỳ nguy hiểm.
Cống ngăn mạn trên tuyến giao thông ở Cà Mau - Ảnh: B.L.Đ
Tại Kiên Giang, nước mặn từ biển Tây theo các cửa sông như sông Cái Lớn, Cái Bé lấn sâu vào vùng đệm U Minh Thượng. Mặc dù hệ thống cống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé đã vận hành tối đa để ngăn mặn, giữ ngọt, nhưng tại các khu vực chưa có hệ thống cống khép kín, nồng độ mặn vẫn duy trì ở mức cao.
Tình trạng này đang ảnh hưởng đến hàng nghìn héc-ta lúa Đông Xuân muộn và diện tích nuôi trồng thủy sản của người dân.
Chủ động bảo đảm nguồn nước sinh hoạt
Không chỉ ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, xâm nhập mặn còn gây áp lực lớn đối với hệ thống cấp nước sinh hoạt tại nhiều địa phương trong vùng.
Để đảm bảo nguồn nước sạch cho người dân, các đơn vị cấp nước đã xây dựng phương án vận hành phù hợp với diễn biến độ mặn. Tại nhiều nhà máy nước, hệ thống lọc mặn RO được chuẩn bị sẵn sàng để xử lý nguồn nước trong trường hợp độ mặn tăng cao.
Ngoài ra, các đơn vị cấp nước cũng chủ động vận chuyển nước thô từ các nguồn có độ mặn thấp hơn để phục vụ sản xuất nước sạch. Một số địa phương còn tổ chức cấp nước theo khung giờ hoặc vận chuyển nước bằng sà lan đến các khu vực bị ảnh hưởng nặng bởi xâm nhập mặn.
Song song đó, người dân cũng được khuyến khích trữ nước ngọt bằng nhiều hình thức như sử dụng bồn chứa, lu, túi trữ nước hoặc đào ao trữ nước trong vườn để đảm bảo sinh hoạt trong mùa khô.
Hạn mặn ở ĐBSCL đến hẹn lại lên - Ảnh: B.L.Đ
Thích ứng lâu dài với biến đổi khí hậu
Theo TS. Văn Hữu Huệ, xâm nhập mặn tại ĐBSCL không còn là hiện tượng bất thường mà đang trở thành thách thức thường xuyên trong bối cảnh biến đổi khí hậu và thay đổi dòng chảy sông Mekong.
Vì vậy, bên cạnh các giải pháp ứng phó trước mắt, các địa phương trong vùng đang đẩy mạnh các chiến lược thích ứng lâu dài. Trong đó, việc quy hoạch lại sản xuất nông nghiệp theo hướng phù hợp với điều kiện nước mặn, nước lợ được xem là giải pháp quan trọng.
Nhiều địa phương đã bắt đầu chuyển đổi từ trồng lúa sang nuôi thủy sản hoặc phát triển các mô hình nông nghiệp thích ứng như lúa – tôm, trồng cây chịu mặn.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng rõ rệt, sự chủ động của chính quyền địa phương, ngành chuyên môn và người dân sẽ đóng vai trò quyết định trong việc bảo vệ sản xuất nông nghiệp và đảm bảo sinh kế bền vững cho hàng triệu người dân tại ĐBSCL.
Văn Kim Khanh