Hậu phương Thanh Hóa trong Chiến dịch Điện Biên Phủ

Hậu phương Thanh Hóa trong Chiến dịch Điện Biên Phủ
4 giờ trướcBài gốc
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, chính quyền về tay Nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến ở Việt Nam; kết thúc hơn 80 năm Nhân dân ta dưới ách đô hộ của thực dân, phát xít. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Tuy nhiên, những ngày độc lập mà Nhân dân hưởng không được bao lâu thì thực dân Pháp dã tâm tái xâm lược nước ta một lần nữa. Đứng trước tình cảnh đó, ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi “Toàn quốc kháng chiến”, nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”[1]. Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, cả nước nhất tề nổi dậy thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, từng bước giành được những thắng lợi quan trọng như chiến dịch Việt Bắc (1947), chiến dịch biên giới Thu - Đông (1950).
Bước vào giai đoạn 1953-1954, trước nguy cơ kế hoạch Na-va bị phá sản, thực dân Pháp gấp rút điều động lực lượng nhảy dù, chiếm Điện Biên Phủ, tăng cường lực lượng, xây dựng nơi đây thành tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương - “một pháo đài không thể công phá” với mưu đồ thu hút và nghiền nát bộ đội chủ lực của ta.
Đứng trước tình hình đó, đầu tháng 12 năm 1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Chỉ thị: “Chiến dịch này là một chiến dịch quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được”[2]. Trung ương Đảng quyết định thành lập Bộ Chỉ huy mặt trận Điện Biên Phủ do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Chỉ huy mặt trận, với mục đích tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ. Ngay sau đó, Nhân dân ta ở vùng tự do, vùng Tây Bắc mới giải phóng, vùng sau lưng địch ở đồng bằng Bắc Bộ đã dồn sức người, sức của cho chiến dịch.
Trải qua “năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt; máu trộn bùn non; gan không núng; chí không mòn” dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, quân và dân ta đã làm nên chiến thắng Điện Phủ (7/5/1954) “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Đây là chiến thắng của chủ nghĩa yêu nước của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử; chiến thắng của đường lối chiến tranh Nhân dân, của sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và của ý chí quyết chiến, quyết thắng.
Trong kháng chiến chống thực dân Pháp nói chung và chiến dịch Điện Biên Phủ nói riêng, với sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, quân và dân Thanh Hóa đã nêu cao khối đoàn kết, thực hiện cao nhất nhiệm vụ xây dựng hậu phương, vừa phục vụ chiến đấu và tham gia chiến đấu, bảo vệ hậu phương. Thanh Hóa vừa là nơi đứng chân các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo quan trọng của Trung ương và của Liên khu IV, Liên khu III, vừa là nơi tản cư của Nhân dân nhiều địa phương khu III và khu IV; đồng thời là nơi xây dựng tiềm lực cho kháng chiến, nơi chi viện sức người sức của, động viên tinh thần cho các mặt trận, các chiến dịch.
Tổng kết 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng bộ và Nhân dân Thanh Hóa đã hoàn thành xuất sắc vai trò căn cứ hậu phương kháng chiến. Cùng với cung cấp hàng triệu tấn lương thực, thực phẩm cho các chiến trường, Thanh Hóa đã huy động hơn 1 triệu dân công, đóng góp 20 triệu ngày công vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí, đắp đường, làm cầu phục vụ các chiến trường Bắc Việt, Bắc Lào. Bổ sung cho bộ đội chủ lực 2 tiểu đoàn, 34 đại đội, 6 trung đội và 500 chiến sỹ du kích. Huy động gần 57 ngàn thanh niên tham gia bộ đội, 15 ngàn thanh niên xung phong chiến đấu, công tác trên các chiến trường lập công xuất sắc. Trong đó 5 người con ưu tú quê hương Thanh Hóa được tặng thưởng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân”, hàng trăm người con ưu tú được tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua toàn quốc và cấp khu, cấp tỉnh[3].
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hóa đã huy động hàng trăm ngàn dân công dài hạn và ngắn hạn, 3.500 xe đạp thồ, 1.126 thuyền ván các loại, 31 ô tô, 180 xe bò, 42 ngựa thồ, 3 voi thồ hàng. Cung cấp 4.500 tấn gạo, 350 tấn thực phẩm, 2.000 con lợn, 350 con trâu, bò và hàng chục tấn rau, đậu, lạc, vừng [4],... Cả hậu phương Thanh Hóa đã huy động cao nhất, nhiều nhất sức người, sức của đảm bảo hậu cần cho chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.
Với những đóng góp to lớn ấy, trong lần thứ hai về thăm Thanh Hóa (ngày 13/6/1957), Chủ tịch Hồ Chí Minh khen ngợi: “Trong kháng chiến, đồng bào tỉnh ta, các tầng lớp Nhân dân đều tỏ ra đoàn kết tham gia kháng chiến. Tôi chỉ nói vài điểm. Ví dụ: dân công đã ra sức rất nhiều trong một chiến dịch Điện Biên Phủ, Thanh Hóa góp 12 vạn dân công tải lương thực cho bộ đội. Bây giờ tiếng Việt Nam đến đâu, tiếng Điện Biên Phủ đến đó. Tiếng Điện Biên Phủ đến đâu, đồng bào Thanh Hóa cũng có một phần vinh dự đến đó. Trong kháng chiến, ngoài việc ủng hộ kháng chiến, Thanh Hóa có những vùng du kích rất oanh liệt như Phú Lệ, Hải Thanh... chứng tỏ đồng bào ta lương giáo cực kỳ đoàn kết, vì thế ta đã thắng lợi. Cũng cần phải nhắc trong kháng chiến, tất cả mọi người bằng cách này hay cách khác đều tham gia kháng chiến. Các cụ phụ lão đôn đốc khuyến khích con cháu tham gia kháng chiến. Thanh niên tham gia bộ đội, có các đồng chí anh hùng như đồng chí Lò Văn Bường, Trần Đức, Tô Vĩnh Diện, Lê Công Khai. Đó là những người con rất ưu tú, chẳng những làm vẻ vang cho tỉnh nhà mà còn làm vẻ vang cho cả nước ta”[5].
72 năm đã trôi qua kể từ Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, nhưng tầm vóc, ý nghĩa và âm vang của chiến thắng ấy vẫn còn nguyên giá trị trong dòng chảy lịch sử dân tộc. Trong bản anh hùng ca vĩ đại ấy, Thanh Hóa tự hào là hậu phương trực tiếp, bền bỉ chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến; gửi vào chiến trường không chỉ lương thực, dân công, phương tiện, mà còn cả niềm tin, ý chí và tình cảm sâu nặng của quê hương xứ Thanh. Những đóng góp ấy đã hòa vào sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến - thắng lợi của ý chí độc lập, tự do và khát vọng hòa bình của nhân dân Việt Nam.
Bước ra từ khói lửa chiến tranh, Thanh Hóa tiếp tục viết tiếp truyền thống anh hùng bằng ý chí dựng xây trong hòa bình, bằng khát vọng phát triển, đổi mới và hội nhập. Từ vùng đất hậu phương từng hết lòng vì tiền tuyến, Thanh Hóa hôm nay đang vươn lên mạnh mẽ, giữ vững vị thế là tỉnh lớn, đông dân, giàu tiềm năng, nhiều lợi thế; từng bước đóng góp thiết thực vào thành tựu chung của đất nước, xứng đáng với truyền thống vẻ vang của quê hương.
Tùng Anh (Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy)
----------------------------
[1] HỒ CHÍ MINH: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 4, tr.534.
[2] Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, tập 5, tr.429.
[3] Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa 1930-1954, Nxb Thanh Hóa, 2010, tr.286.
[4] Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa 1930-1954, Nxb Thanh Hóa, 2010, tr.276.
[5] HỒ CHÍ MINH: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t. 10, tr. 598-599.
Nguồn Thanh Hóa : http://baothanhhoa.vn/hau-phuong-thanh-hoa-trong-chien-dich-dien-bien-phu-286737.htm