Gia đình ông Tô Ngọc Toàn ở thôn Mỹ Tân, xã Kỳ Thượng từng có gần 2 ha sắn nguyên liệu, cung cấp ổn định cho Nhà máy Sản xuất tinh bột sắn Hà Tĩnh. Đây là nguồn thu nhập chính của cả gia đình trong nhiều năm liền. Thế nhưng, vài vụ trở lại đây, gia đình ông đã giảm dần diện tích trồng sắn, trong đó năm 2025 chỉ còn khoảng 5 sào.
Ông Tô Ngọc Toàn đang thu hoạch một số diện tích còn lại của gia đình.
Ông Tô Ngọc Toàn chia sẻ: “Qua kinh nghiệm sản xuất, tôi thấy không có cây gì phù hợp với đất đồi ở đây và cho năng suất khá ổn định như cây sắn. Tuy nhiên, mấy năm gần đây, giá cả bấp bênh, có năm bán không đủ bù chi phí phân bón, công chăm sóc nên chúng tôi không còn mặn mà đầu tư trồng cây này”.
Không riêng gì gia đình ông Toàn, nhiều hộ dân khác ở Kỳ Thượng cũng đang thu hẹp dần diện tích sắn. Bởi vậy, vốn từ một vùng nguyên liệu rộng lớn gần 1.000 ha (giai đoạn năm 2015-2020) thì nay, diện tích sắn của toàn xã chỉ còn lại chưa đầy 200 ha.
Diện tích trồng sắn nguyên liệu của nhiều địa phương của huyện Kỳ Anh (cũ) đang bị thu hẹp.
Theo người dân, ngoài yếu tố giá cả không ổn định, thiên tai và dịch bệnh thì bệnh khảm lá sắn cũng khiến năng suất sụt giảm nghiêm trọng. Trong khi đó, chi phí đầu tư từ giống, phân bón đến nhân công ngày càng tăng cao, khiến lợi nhuận từ cây sắn ngày một thấp.
Trên những đồi đất từng phủ kín màu xanh của sắn, nay nhiều diện tích đã được người dân chuyển sang trồng keo tràm hoặc các loại cây ngắn ngày khác.
Ông Trần Anh Sơn, thôn Mỹ Lợi, xã Kỳ Thượng cho biết: "Trước đây, gia đình trồng trên 1 ha sắn, thuộc nhóm hộ có diện tích lớn nhất xã. Mỗi năm, trừ chi phí, trồng sắn còn cho thu nhập khá nhưng vài năm nay, sắn vừa mất mùa, vừa mất giá, có vụ thu hoạch xong mà không muốn bán vì giá quá thấp... Thấy trồng sắn rủi ro cao, tôi đành chuyển dần sang trồng keo để có thu nhập ổn định hơn”.
Ngoài yếu tố giá cả không ổn định, thiên tai và dịch bệnh cũng khiến năng suất sụt giảm nghiêm trọng.
Không chỉ xã Kỳ Thượng, các địa phương khác trong vùng trồng sắn nguyên liệu như: Kỳ Lạc, Kỳ Văn... cũng rơi vào tình trạng tương tự. Diện tích sắn toàn vùng giảm mạnh qua từng năm, kéo theo sản lượng sắn nguyên liệu cung cấp cho nhà máy ngày càng khan hiếm.
Chủ tịch UBND xã Kỳ Lạc Nguyễn Anh Ngọc cho biết: “Cây sắn từng là cây trồng chủ lực của địa phương, phù hợp với điều kiện đất đai và tập quán canh tác của người dân. Tuy nhiên, do đầu ra không ổn định, giá thu mua lên xuống thất thường nên người dân không yên tâm sản xuất. Xã đã tuyên truyền, vận động người dân để giữ diện tích sắn, nhưng nếu không có chính sách bao tiêu rõ ràng, lâu dài thì rất khó”.
Sắn nguyên liệu từng là cây chủ lực đem lại thu nhập khá cho người dân vùng thượng Kỳ Anh.
Diện tích sắn nguyên liệu sụt giảm đã và đang tạo ra hệ lụy rõ rệt nhất đối với Nhà máy Sản xuất tinh bột sắn Hà Tĩnh. Dù từng được quy hoạch, đầu tư ngay trên vùng nguyên liệu rộng lớn, giàu tiềm năng, nhưng nhiều năm nay, nhà máy luôn trong tình trạng thiếu nguyên liệu nghiêm trọng.
Do không đủ sắn đầu vào, nhà máy thường xuyên phải vận hành không hết công suất, làm tăng chi phí sản xuất, giảm hiệu quả đầu tư. Để duy trì hoạt động, doanh nghiệp buộc phải thu mua sắn từ các tỉnh khác, thậm chí nhập nguyên liệu từ nước bạn Lào, khiến chi phí đội lên đáng kể.
Ông Nguyễn Quốc Sắc - Phó Giám đốc Nhà máy Chế biến tinh bột sắn Hà Tĩnh cho biết: “Hiện nay, nguồn sắn nguyên liệu tại chỗ thiếu trầm trọng. Có thời điểm, nhà máy chỉ hoạt động được chưa đến 50% công suất thiết kế. Chúng tôi phải thu mua sắn từ xa, kể cả ở Lào, chi phí vận chuyển rất cao, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh”.
Theo ông Sắc, trong bối cảnh vùng nguyên liệu chưa thể phục hồi ngay, doanh nghiệp đang tính toán chuyển hướng sang chế biến sâu hoặc đa dạng hóa sản phẩm để giảm bớt khó khăn. Tuy nhiên, về lâu dài, việc ổn định và phát triển vùng nguyên liệu sắn vẫn là yếu tố then chốt để nhà máy hoạt động bền vững.
Nhà máy Chế biến tinh bột sắn Hà Tĩnh đang hoạt động cầm chừng do thiếu nguyên liệu.
Thực tế cho thấy, bài toán khôi phục diện tích sắn nguyên liệu không thể giải quyết bằng những giải pháp ngắn hạn. Để cây sắn thực sự trở lại vị thế cây trồng chủ lực, cần có một chiến lược lâu dài và đồng bộ. Trong đó, doanh nghiệp phải đóng vai trò “đầu tàu”, xây dựng mối liên kết chặt chẽ với người dân thông qua hợp đồng bao tiêu ổn định, giá cả hợp lý, minh bạch. Chính quyền địa phương cần quy hoạch vùng nguyên liệu, hỗ trợ kỹ thuật canh tác, phòng trừ dịch bệnh, đồng thời có chính sách khuyến khích người dân yên tâm đầu tư sản xuất. Về phía người trồng sắn, điều họ mong mỏi nhất vẫn là một đầu ra ổn định.
Khi mối liên kết giữa “bốn nhà” - Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân - được củng cố bền chặt, vùng nguyên liệu sắn mới có cơ hội được khôi phục một cách ổn định. Khi đó, không chỉ sinh kế của người dân được đảm bảo mà bài toán “khát” nguyên liệu của Nhà máy tinh bột sắn Hà Tĩnh cũng sẽ dần tìm được lời giải, mở ra hướng phát triển bền vững hơn cho cả vùng.
Vũ Viễn