Khi dư địa của mô hình tăng trưởng dựa vào vốn, lao động chi phí thấp và mở rộng quy mô dần thu hẹp, Việt Nam bước vào giai đoạn cấu trúc tăng trưởng quan trọng hơn tốc độ tăng trưởng. Vì thế, giai đoạn 2026-2030 không chỉ là một chu kỳ phát triển kinh tế - xã hội, mà là thời điểm phải tái định vị chiến lược, chủ động thiết kế hệ sinh thái phát triển có chủ đích để làm chủ quỹ đạo tăng trưởng cao, bền vững.
Khi quán tính tăng trưởng dần tới hạn
Ba thập kỷ qua, Việt Nam đạt được những thành tựu đáng kể về hội nhập, công nghiệp hóa và nâng cao thu nhập bình quân đầu người. Mô hình tăng trưởng dựa trên thu hút đầu tư, khai thác lợi thế lao động giá rẻ và mở rộng thương mại quốc tế hàng hóa đã phát huy hiệu quả trong giai đoạn đầu chuyển đổi.
Tuy nhiên, bối cảnh phát triển đang thay đổi rất nhanh. Chi phí lao động gia tăng, lợi thế nhân công rẻ không còn là yếu tố quyết định. Dòng vốn đầu tư quốc tế dịch chuyển theo tiêu chí mới: chất lượng hạ tầng số, năng lực công nghệ, độ ổn định thể chế, tiêu chuẩn phát triển xanh.
Cạnh tranh toàn cầu không còn thuần túy về chi phí, mà chuyển mạnh sang cạnh tranh về năng suất, đổi mới sáng tạo và khả năng tích hợp vào chuỗi giá trị công nghệ cao.
Trong điều kiện đó, việc tiếp tục mở rộng đầu tư theo chiều rộng hoặc duy trì tăng trưởng bằng kích thích ngắn hạn có thể giúp ổn định chu kỳ tăng trưởng ngắn hạn, nhưng khó tạo ra chuyển đổi cấu trúc kinh tế - động lực của tăng trưởng cao, bền vững trong dài hạn.
Điểm nghẽn hiện nay không nằm ở thiếu vốn hay thiếu nguồn lực, mà ở cách phân bổ và phối hợp nguồn lực. Khi các yếu tố sản xuất vận hành rời rạc, thiếu liên kết, thiếu định hướng chiến lược, nền kinh tế khó hình thành các cụm động lực đủ mạnh để bứt phá. Tăng trưởng theo quán tính có thể giữ nhịp, nhưng không thể nâng tầm vị thế của nền kinh tế.
Chính trong bối cảnh đó, yêu cầu tái thiết kế cấu trúc phát triển trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Hệ sinh thái phát triển có chủ đích: Từ khái niệm đến kiến trúc vận hành
Kinh tế thế giới đang chuyển sang cạnh tranh bằng năng suất, công nghệ, dữ liệu và chất lượng thể chế. Các chuỗi giá trị toàn cầu không còn đơn thuần tìm nơi có chi phí thấp, mà tìm nơi có hệ sinh thái tương thích nhất.Trong kỷ nguyên mới, các nền kinh tế cạnh tranh bằng cấu trúc hệ sinh thái.
Với tư duy phát triển hiện đại, hệ sinh thái không còn là khái niệm mô tả sự tương tác tự nhiên giữa các chủ thể kinh tế. Ở cấp độ cao hơn, nhiều quốc gia đã chuyển sang cách tiếp cận hệ sinh thái phát triển có chủ đích; ở đó nhà nước, doanh nghiệp, tài chính, công nghệ, nhân lực và hạ tầng được thiết kế, định hướng và điều phối một cách tổng thể, theo mục tiêu chiến lược dài hạn; ở đó Nhà nước, thị trường và các chủ thể kinh tế tương tác trong một cấu trúc đồng bộ, thay vì vận hành rời rạc, phản ứng tình huống.
Hệ sinh thái phát triển có chủ đích là mô hình ở đó quốc gia xác định rõ mình muốn đứng ở đâu trong chuỗi giá trị toàn cầu, muốn làm chủ công nghệ nào, muốn xây dựng lợi thế cạnh tranh nào, từ đó thiết kế toàn bộ khung thể chế, chính sách, tài chính, đào tạo nhân lực và hạ tầng để thực hiện các mục tiêu đó. Nếu hệ sinh thái tự phát là "tăng trưởng theo quán tính", thì hệ sinh thái phát triển có chủ đích là "tăng trưởng theo kiến trúc".
Về bản chất, hệ sinh thái phát triển có chủ đích là hệ thống trong đó các thành tố cốt lõi của nền kinh tế: thể chế, doanh nghiệp, thị trường vốn, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, hạ tầng vật chất và hạ tầng số được thiết kế để tương tác và thúc đẩy lẫn nhau theo định hướng ưu tiên rõ ràng.
Khác với cải cách đơn lẻ, xây dựng hệ sinh thái phát triển có chủ đích đòi hỏi ba nhóm yếu tố: tính chọn lọc với việc xác định rõ ngành, lĩnh vực và cụm động lực ưu tiên; tính đồng bộ với sự bảo đảm các chính sách tài khóa, tiền tệ, giáo dục, khoa học công nghệ và thị trường vốn cùng hướng về một mục tiêu; tính ổn định với mục đích duy trì nhất quán các chiến lược trong dài hạn, tránh thay đổi đột ngột gây méo mó kỳ vọng thị trường.
Trong hệ sinh thái phát triển có chủ đích, Nhà nước không đóng vai trò "người làm thay thị trường", mà là "kiến trúc sư của hệ thống". Vai trò đó bao gồm thiết kế luật chơi minh bạch, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh, tạo nền tảng hạ tầng và định hướng chiến lược phát triển ngành.
Cải cách có thể tạo ra chuyển động. Nhưng chỉ thiết kế kiến trúc mới tạo ra chuyển đổi cấu trúc.
Sự khác biệt giữa hai cách tiếp cận này quyết định nền kinh tế sẽ chỉ duy trì được tốc độ hay có thể nâng được chất lượng tăng trưởng.
Khi Nhà nước trở thành kiến trúc sư: Kinh nghiệm từ Israel, Singapore, Hàn Quốc
Thực tiễn quốc tế cho thấy những quốc gia thành công trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng đều theo đuổi chiến lược hệ sinh thái phát triển có chủ đích với mức độ tập trung và kỷ luật cao.
Tại Israel, đầu thập niên 1990, nền kinh tế đứng trước áp lực hội nhập và tái cơ cấu. Thay vì hỗ trợ dàn trải, Chính phủ lựa chọn cách tiếp cận mang tính thiết kế cấu trúc. Chính phủ không chỉ khuyến khích khởi nghiệp mà chủ động thiết kế hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thông qua quỹ đầu tư mạo hiểm Yozma.
Điểm đặc biệt là Nhà nước chia sẻ rủi ro ban đầu nhưng không can thiệp điều hành, sau một thời gian, tư nhân có thể mua lại phần vốn nhà nước. Cách làm này không tạo ra bao cấp, mà kích hoạt thị trường vốn mạo hiểm nội địa.
Cùng với công cụ tài chính, Israel xây dựng mối liên kết chặt giữa khu vực quốc phòng với trường đại học và doanh nghiệp khởi nghiệp. Công nghệ lõi được ươm tạo trong môi trường nghiên cứu, sau đó thương mại hóa nhanh chóng. Chính sự kết nối ba trụ cột này đã hình thành một hệ sinh thái khởi nghiệp có mật độ cao bậc nhất thế giới.
Bài học từ Israel không chỉ là ưu đãi hay khuyến khích đổi mới, mà là thiết kế cơ chế chia sẻ rủi ro đủ thông minh để thị trường tự vận hành và mở rộng.
Singapore chọn cách xây dựng hệ sinh thái dựa trên nền tảng thể chế và điều phối chiến lược, quy hoạch ngành mũi nhọn, xây dựng cụm liên kết chiến lược trong lĩnh vực tài chính, logistics và công nghệ cao. Vai trò điều phối mạnh mẽ, nhất quán của Nhà nước tạo môi trường thể chế minh bạch, ổn định, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và đảm bảo chi phí giao dịch thấp. Niềm tin thể chế trở thành nền móng thu hút dòng vốn toàn cầu.
Đặc biệt, Singapore coi nhân lực chất lượng cao là hạ tầng mềm chiến lược, chủ động thu hút chuyên gia quốc tế, đầu tư mạnh cho giáo dục STEM. Hệ sinh thái tài chính, công nghệ, logistics và dịch vụ cao cấp không hình thành tự phát, mà vận hành trong một cấu trúc điều phối thống nhất.
Khác với Israel và Singapore, Hàn Quốc thực hiện chiến lược công nghiệp hóa có chọn lọc, tập trung nguồn lực vào các ngành trụ cột, đầu tư lớn cho R&D và giáo dục. Chính phủ hỗ trợ tín dụng và chính sách, nhưng gắn chặt với điều kiện xuất khẩu, nâng cấp công nghệ và cạnh tranh quốc tế. Doanh nghiệp không đạt tiêu chuẩn sẽ không tiếp tục được nhận hỗ trợ.
Hàn Quốc xây dựng các cụm công nghiệp nơi doanh nghiệp đầu chuỗi, nhà cung ứng nội địa, viện nghiên cứu và chính quyền địa phương cùng vận hành trong một hệ thống liên kết. Sự gắn kết giữa chính sách công nghiệp và năng lực doanh nghiệp tạo bước chuyển mạnh mẽ về năng suất và vị thế công nghệ.
Điểm chung của ba quốc gia này không phải là sự can thiệp của Nhà nước mà là tư duy và năng lực thiết kế hệ sinh thái dài hạn, nhất quán, có trọng tâm và phương pháp tổ chức phát triển. Quốc gia thành công không cải cách nhiều hơn, mà thiết kế tốt hơn.
Hệ sinh thái phát triển có chủ đích và lựa chọn chiến lược 2026-2030
Bước vào giai đoạn 2026-2030, câu chuyện tăng trưởng của Việt Nam không chỉ đơn thuần là duy trì tốc độ cao, mà cần tái định vị chiến lược phát triển trong môi trường toàn cầu đang thay đổi sâu sắc. Chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, tái cấu trúc chuỗi cung ứng và chuyển dịch năng lượng đang làm thay đổi luật chơi. Trong bối cảnh đó, tăng trưởng theo quán tính sẽ không đủ. Điều cần thiết là tăng trưởng theo kiến trúc, tổ chức lại nền kinh tế trên nền tảng hệ sinh thái phát triển có chủ đích.
Giai đoạn 2026-2030 có ý nghĩa quyết định đối với quỹ đạo phát triển của Việt Nam trong thập niên tới. Nếu tiếp tục phân bổ nguồn lực dàn trải theo địa phương, ngành nghề truyền thống, nền kinh tế có thể duy trì ổn định, nhưng khó đạt bước nhảy về năng suất. Ngược lại, nếu hình thành các cụm sinh thái động lực như kinh tế số, bán dẫn, năng lượng xanh, công nghiệp chế tạo thông minh và thiết kế đồng bộ thể chế, tài chính, nhân lực cho các cụm này, khả năng nâng tầm vị thế kinh tế sẽ rõ ràng hơn.
Ba chuyển dịch chiến lược cần thực hiện: chuyển từ điều hành phản ứng sang kiến tạo chủ động; chuyển từ dàn trải nguồn lực sang tập trung vào cụm sinh thái động lực; chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng dựa vào năng suất và đổi mới sáng tạo.
Trụ cột rất quan trọng không thể thiếu của định vị chiến lược tăng trưởng là chất lượng thể chế. Trong môi trường cạnh tranh thu hút dòng vốn chiến lược và nhân lực chất lượng cao, lợi thế không chỉ nằm ở quy mô thị trường, mà ở mức độ minh bạch và tính dự báo của chính sách.
Singapore đã chứng minh với thể chế ổn định và cơ chế điều phối hiệu quả trở thành lợi thế cạnh tranh quốc gia. Đối với Việt Nam, cải các thể chế cần chuyển từ tháo gỡ từng điểm nghẽn sang thiết kế khung khuyến khích dài hạn, giảm chi phí tuân thủ, nâng cao trách nhiệm giải trình.
Giai đoạn 2026-2030 và những năm tiếp theo đòi hỏi nâng cấp cấu trúc tăng trưởng. Việt Nam cần chuyển từ vị trí gia công lắp ráp sang vị trí có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Muốn vậy, Chính phủ phải thiết kế các hệ sinh thái ngành đủ sâu để doanh nghiệp trong nước tham gia và từng bước dẫn dắt chuỗi giá trị.
Kinh nghiệm của Hàn Quốc cho thấy, công nghiệp hóa thành công đến từ việc lựa chọn ngành mũi nhọn và hình thành các cụm liên kết ngành có tính lan tỏa cao. Đây là gợi ý quan trọng cho Việt Nam trong việc xây dựng hệ sinh thái công nghiệp công nghệ cao giai đoạn tới, đặc biệt trong các lĩnh vực bán dẫn, Al, công nghệ xanh và sản xuất thông minh.
Cùng với nâng cấp công nghiệp là yêu cầu nâng cấp năng lực đổi mới sáng tạo. Bài học từ Israel cho thấy, hệ sinh thái khởi nghiệp không hình thành từ ưu đãi hành chính, mà từ thiết kế cơ chế tài chính chia sẻ rủi ro và liên kết chặt giữa khu vực quốc phòng công nghệ cao với cơ sở nghiên cứu và doanh nghiệp.
Đối với Việt Nam, điều này hàm ý phải phát triển thị trường vốn mạo hiểm, cơ chế sandbox thực chất và kết nối mạnh mẽ hơn giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp.
Làm chủ hay phụ thuộc vào hệ sinh thái?
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, phức tạp, quốc gia nào không chủ động thiết kế hệ sinh thái của mình sẽ phải vận hành trong hệ sinh thái do các trung tâm công nghệ và tài chính toàn cầu định hình.
Lựa chọn lớn nhất là mức độ chủ động về cấu trúc tăng trưởng. Nếu không tái thiết cấu trúc phát triển, nền kinh tế có nguy cơ rơi vào trạng thái tăng trưởng trung bình kéo dài, khó bứt phá về năng suất.
Ngược lại, nếu xây dựng được hệ sinh thái phát triển có chủ đích, Việt Nam có thể tạo ra mặt bằng tăng trưởng mới với chất lượng cao hơn, khả năng chống chịu tốt hơn và vị thế cạnh tranh rõ ràng hơn.
Tài chính công và thị trường vốn trong hệ sinh thái phát triển
Hệ sinh thái phát triển có chủ đích không thể vận hành nếu thiếu cấu trúc tài chính phù hợp.
Tài chính công cần đóng vai trò vốn xúc tác chiến lược, tập trung vào hạ tầng số, giáo dục chất lượng cao, nghiên cứu và phát triển. Việc phân bổ ngân sách dàn trải, thiếu trọng tâm làm suy yếu khả năng tạo cụm động lực.
Bên cạnh đó, thị trường vốn phải trở thành kênh huy động dài hạn cho đổi mới sáng tạo và công nghệ cao. Nếu doanh nghiệp chỉ phụ thuộc vào tín dụng ngắn hạn, hệ sinh thái khó hình thành động lực đầu tư dài hạn. Điều này đòi hỏi nâng cao tính minh bạch, củng cố niềm tin thị trường và hoàn thiện khung pháp lý để vốn tư nhân tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực chiến lược.
Một hệ sinh thái mạnh không chỉ dựa vào nguồn lực Nhà nước, mà dựa vào khả năng kích hoạt nguồn lực xã hội.
Cần làm gì để xây dựng hệ sinh thái phát triển có chủ đích
Để xây dựng hệ sinh thái phát triển có chủ đích như một nền tảng cho tăng trưởng cao và bền vững giai đoạn 2026-2030, các giải pháp không thể dừng ở khuyến nghị chung, mà cần được đặt trong logic hành động của Chính phủ với vai trò kiến tạo, điều phối và dẫn dắt. Thiết nghĩ, Chính phủ cần thực hiện một số giải pháp:
Trước hết, Chính phủ cần xác lập các mục tiêu chiến lược cấp quốc gia đủ lớn, đủ rõ để làm "trục xoay" cho toàn bộ hệ sinh thái. Không có mục tiêu chiến lược, sẽ không tập trung nguồn lực. Trên cơ sở đánh giá lợi thế so sánh và vị thế mới của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, Chính phủ nên lựa chọn tối đa 3-5 lĩnh vực có khả năng tạo đột phá, như công nghệ cao, kinh tế số, công nghiệp xanh, năng lượng tái tạo, logistics. Việc lựa chọn cần công khai, minh bạch và đi kèm cam kết chính sách dài hạn, nhằm tạo niềm tin cho doanh nghiệp và nhà đầu tư.
Cùng với đó, Chính phủ cần chuyển mạnh vai trò từ quản lý hành chính sang kiến tạo cấu trúc phát triển. Điều này đòi hỏi cải cách thể chế theo hướng thiết kế chính sách dựa trên chuỗi giá trị, chứ không theo ranh giới bộ ngành. Cần luật hóa cơ chế thử nghiệm chính sách cho các lĩnh vực công nghệ mới; thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành có thực quyền.
Đặc biệt, phải đổi mới hệ thống đánh giá chính sách dựa trên hiệu quả lan tỏa dài hạn thay vì chỉ tiêu ngắn hạn. Chính phủ cần ban hành chính sách, giải pháp thực hiện phương châm "Nghĩ thật - Làm thật - Chịu trách nhiệm thật - Kết quả thật".
Một nhiệm vụ trọng tâm đó là tái thiết kế chính sách công nghiệp theo hướng hiện đại. Chính phủ cần chuyển từ tư duy ưu đãi dàn trải sang hỗ trợ có điều kiện, gắn với cam kết chuyển giao công nghệ, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và phát triển doanh nghiệp trong nước. Việc hình thành các cụm liên kết ngành thực chất, có doanh nghiệp dẫn dắt và hệ sinh thái vệ tinh, phải được đặt thành chương trình hành động cụ thể. Không có hạt nhân công nghệ và doanh nghiệp đầu tàu, hệ sinh thái sẽ không thể hình thành.
Trong lĩnh vực tài chính, Chính phủ cần tạo dựng một cấu trúc vốn phù hợp với đổi mới sáng tạo. Việc thành lập quỹ đầu tư chiến lược quốc gia cho công nghệ lõi, khuyến khích quỹ hưu trí và bảo hiểm tham gia đầu tư dài hạn, cũng như phát triển thị trường vốn xanh là những bước đi cần thiết. Tăng trưởng cao không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào tín dụng ngân hàng ngắn hạn; hệ sinh thái đổi mới sáng tạo đòi hỏi nguồn vốn kiên nhẫn và chấp nhận rủi ro.
Về nguồn nhân lực, Chính phủ cần thúc đẩy cải cách giáo dục đại học gắn với các ngành chiến lược; xây dựng cơ chế hợp tác chặt chẽ giữa viện nghiên cứu - trường đại học - doanh nghiệp; đồng thời có chính sách thu hút chuyên gia quốc tế và Việt kiều trình độ cao. Nhân lực phải đi trước một bước so với định hướng chiến lược, nếu không hệ sinh thái sẽ thiếu nền tảng vận hành.
Hạ tầng vật chất và hạ tầng số cũng cần được nâng cấp theo hướng tập trung, có chọn lọc.
Chính phủ nên ưu tiên đầu tư vào các hành lang tăng trưởng chiến lược - nơi tích hợp công nghiệp, đô thị, dịch vụ và logistics, thay vì phân bổ dàn trải. Hạ tầng năng lượng ổn định, xanh và hạ tầng dữ liệu quốc gia liên thông là điều kiện tiên quyết để hệ sinh thái vận hành hiệu quả.
Đặc biệt, cần thiết lập một cơ chế điều phối trung tâm ở cấp Chính phủ để giám sát và thúc đẩy quá trình xây dựng hệ sinh thái chiến lược. Một hội đồng điều phối có thực quyền, hoạt động theo mô hình quản trị theo mục tiêu sẽ tránh tình trạng chia cắt chính sách và phân tán nguồn lực. Đồng thời, Chính phủ cần công bố định kỳ báo cáo đánh giá "sức khỏe hệ sinh thái" nhằm tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Cuối cùng, mọi nỗ lực kiến tạo phải đi đôi với kỷ luật thị trường. Chính phủ cần bảo đảm môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch; hạn chế độc quyền méo mó; nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý và doanh nghiệp nhà nước. Hệ sinh thái phát triển có chủ đích sẽ tạo điều kiện để những chủ thể năng động nhất phát triển trong một cấu trúc được thiết kế thông minh.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã chỉ rõ: "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, thúc đẩy đột phá chiến lược, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, bảo đảm quan điểm lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống, hạnh phúc của Nhân dân". Chúng ta tin tưởng Đảng và Nhà nước sẽ chủ động thiết kế, thực hiện hiệu quả hệ sinh thái phát triển có chủ đích, với lựa chọn chiến lược rõ ràng, phân bổ nguồn lực tập trung và thể chế ổn định dài hạn, Việt Nam sẽ làm chủ quỹ đạo tăng trưởng, thực hiện thành công hai mục tiêu 100 năm trong thập niên tới./.
Nguyễn Bích Lâm
Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê