Theo thời gian, thơ Nguyễn Bính càng ngày càng được yêu thích, vượt xa các ngôi sao đương thời khác. Ông thuộc hàng các nhà thơ Việt Nam được ưa chuộng vào bậc nhất. Năm 1986, "Tuyển tập Nguyễn Bính" được in 40.500 bản, "Thơ Nguyễn Bính" 50.000 bản. Năm 1987, Sở Văn hóa - Thông tin Hà Nam Ninh lại cho in 50.000 bản "Thơ tình Nguyễn Bính", 50.000 bản "Cây đàn tỳ bà". Thơ Nguyễn Bính được in liên tiếp với nhiều dạng thức khác nhau và đều bán hết. Đó chính là hồn đất nước, là khả năng giao cảm kỳ diệu với mọi thời đại. Nó chứng tỏ rằng, thơ mang tính dân tộc luôn gần gũi và không vì thế mà không mang tính hiện đại.
***
Khẳng định cá nhân, kêu gọi thay đổi, kêu gọi hưởng thụ cuộc sống hiện tại trong từng giây phút một như trong thơ Xuân Diệu: Ta là một, là riêng, là thứ nhất (Hy Mã Lạp Sơn); Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết/ Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt/ Những vườn xưa, nay đoạn tuyệt dấu hài/ Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai/ Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn (Giục giã) là một cuộc giải phóng con người khỏi những gông xiềng của định kiến, khỏi con người là công cụ, bổn phận trung cổ là một bước tiến dài trong nhận thức, trong sự phát triển nhân loại và của văn học.
Trong xu hướng ngược lại, Nguyễn Bính kêu gọi sự không thay đổi: Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa. Nghe ra có vẻ bảo thủ, nhưng thật ra tiếng ấy như cất lên từ mọi tâm can: giữ lấy hồn cốt Việt Nam trước mọi biến động, nhất là trước sự giao thoa, xâm lăng mạnh mẽ của lối sống và văn hóa ngoại lai. Điều ấy đúng cho cả hôm nay và thơ Nguyễn Bính có vai trò cảnh báo, kháng cự, bảo vệ văn hóa dân tộc.
Với người Việt, không gì đẹp bằng mùa xuân, mùa của hy vọng. Mỗi tia nắng, sợi mưa đều là sợi lòng phấp phới; quá khứ, hiện tại, tương lai hiện lên chồng chất, mỗi ngày sống là một ngày hội. Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay/ Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy/ Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ/ Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay…
“Mưa xuân” của Nguyễn Bính làm lòng ta phơi phới mỗi độ xuân về. Sức bền của thơ Nguyễn Bính chính là sức bền của lòng yêu quê hương xứ sở miên viễn cùng trời đất của mỗi chúng ta, như Đinh Hùng đã viết trong tùy bút “Cảm thu” năm 1941: “Nắng ở đây vẫn là nắng ngày xưa và linh hồn tôi vẫn là linh hồn tôi năm trước”.
***
Làng Thiện Vịnh của Nguyễn Bính là một làng nghèo, dưới chế độ cũ, cũng như làng Đại Hoàng (Vũ Đại) trong truyện "Chí Phèo" của Nam Cao, nông dân bị bần cùng hóa, đời sống rất cơ cực. Vì sao thơ Nguyễn Bính không nói về sự nghèo khổ, tố cáo tội ác thực dân phong kiến như Ngô Tất Tố, Nam Cao? Là vì nhà thơ thường thiên về cái đẹp, bỏ cái ngắn, tìm đến cái dài, vươn tới sự vĩnh hằng. Lựa chọn đó làm cho thơ có sức sống lâu bền hơn văn xuôi. Thơ Nguyễn Bính không để người ta căm ghét mà để yêu thương, để khắc sâu thêm tình yêu nước Việt, hồn Việt.
Đã xa lắm rồi những cô gái ngồi trên khung cửi, nhưng cái đẹp trinh nguyên, cuốn hút lòng người thì vẫn còn nguyên đó trong những em gái quanh ta: Lòng trẻ còn như cây lụa trắng/ Mẹ già chưa bán chợ làng xa. Hồn Việt trong thơ Nguyễn Bính được thấy rõ ở những bức tranh phong cảnh, nhất là những bức tranh xuân: Mùa xuân là cả một mùa xanh/ Giời ở trên cao, lá ở cành/ Lúa ở đồng tôi và lúa ở/ Đồng nàng và lúa ở đồng anh (Mùa xuân xanh). Giời ở trên cao, lá ở cành…, đó là sự tự nhiên, bất biến.
Mùa xuân trong cảm quan Nguyễn Bính mang nguồn sống mạnh mẽ, khỏe khoắn: Đây cả mùa xuân đã đến rồi/ Từng nhà mở cửa đón tươi vui/ Từng cô em bé so màu áo/ Đôi má hồng lên nhí nhảnh cười (Thơ xuân). Và trong những bức tranh lụa nõn nà ấy thì không thể thiếu điểm hồng, điểm sáng là đôi má, đôi mắt người thiếu nữ: Đã thấy xuân về với gió đông/ Với trên màu má gái chưa chồng/ Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm/ Ngước mắt nhìn giời đôi mắt trong... (Xuân về). Không chỉ mùa xuân, mà mùa thu cũng đẹp: Thăm thẳm trời xanh lộng đáy hồ/ Mùi hoa thiên lý thoảng chiều thu/ Con cò bay lả trong câu hát/ Giấc trẻ say dài nhịp võng ru.
Nguồn: ITN
Tôi có thể cả quyết rằng, người phương Đông, trong đó có người Việt Nam, nếu không nói nhất là người Việt Nam, có sự gắn bó hòa hợp gần như đồng nhất với thiên nhiên. Và cũng cả quyết rằng, thơ Việt Nam, trong đó có Nguyễn Bính, nếu không nói bậc nhất là Nguyễn Bính, có thể đưa con người rất ngọt, rất sâu vào thiên nhiên. Khi con người đã hóa thân được vào đạo thì bà già chống gậy hay cây gậy dắt bà già đều như nhau: Gậy trúc dắt bà già tóc bạc/ Tay lần tràng hạt miệng nam mô.
Ba gian đầy cả ba gian nắng chiều trong bài “Qua nhà” không chỉ nói về sự trống trải của một người con trai thất tình mà còn nói độ mở tận cùng, sự chia sẻ tận cùng giữa con người với thiên nhiên. Quả na tĩnh mà thành động, đàn kiến động mà thành tĩnh: Lá thấp cành cao gió đuổi nhau/ Góc vườn rụng vội chiếc mo cau/ Trái na mở mắt, nhìn ngơ ngác/ Đàn kiến trường chinh tự thuở nào (Chiều thu).
Hồn Việt trong thơ Nguyễn Bính thể hiện trong những tâm trạng tiêu biểu. Đó là buồn vui lẫn lộn, sâu kín của người mẹ có con gái sắp lấy chồng: Đưa con ra đến cửa buồng thôi/ Mẹ phải xa con khổ mấy mươi!/ Con ạ, đêm nay mình mẹ khóc/ Đêm đêm mình mẹ lại đưa thoi... (Lòng mẹ). Còn người con gái bước ra khỏi cửa, càng thương mẹ nhiều hơn: Cậy em, em ở lại nhà/ Vườn dâu em đốn, mẹ già em thương (Lỡ bước sang ngang).
Nguyễn Bính dành yêu thương, trân trọng đặc biệt với người phụ nữ. Ông nhìn thấy bộ ngực của người mẹ trẻ là sức sống của một dân tộc Đường mòn rộn bước chân về chợ/ Vú sữa đầy căng mặt yếm sồi (Chiều thu). Và phẩm chất lam làm, hy sinh của họ: Anh hăng hái mà đi tiền tuyến!/ Đánh quân thù, lập chiến công cao/ Cho dù xa cách bao lâu/ Việc nhà em gắng trước sau vẹn tròn/ Săn sóc mẹ chiều hôm ban sớm/ Dậy dỗ con khôn lớn nên người/ Tăng gia vườn ruộng tốt tươi/ Tháng năm vượt mức, tháng mười bội thu (Bức thư nhà).
Nhà văn Chu Văn kể: "Bức thư nhà" của Nguyễn Bính được nhiều bà mẹ hát ru con trong chống Mỹ, thay cho "Chinh phụ ngâm".
***
Sinh thời, có lẽ Nguyễn Bính không có mấy Tết vui. Ông có những bài thơ nhớ Tết quê như Xuân về nhớ cố hương: Lênh đênh tóc rối cỏ bồng/ Chiều ba mươi Tết ai không nhớ nhà. Có Xuân tha hương rồi lại Xuân vẫn tha hương: Thôn dã từng quen mùi đạm bạc/ Thị thành thêm chán miếng cao lương/ Vụng tính bỏ rơi đi hạnh phúc/ Xảy ra đánh vỡ mất thiên đường. Thiên đường của ông là quê nhà, nơi có: Đê cao có đất thả diều/ Trời cao lắm lắm có nhiều chim bay/ Quả lành nặng trĩu từng cây/ Sen đầy ao cá, cá đầy ao sen… (Anh về quê cũ).
Người ta khi tuổi càng cao, đọc Nguyễn Bính càng thấm. Năm 1942 ở Huế, Nguyễn Bính đã gửi cho chị Trúc, một người chị và hơn cả người chị là một tri âm: Chao ơi, Tết đến em không được/ Trông thấy quê hương thật não nùng. Ông đã nhiều phen đau thương trong một đời lưu lạc: Nợ thế chưa trả tròn một món/ Sòng đời thua đến trắng hai tay/ Quê nhà xa lắc, xa lơ đó/ Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay. Càng xa nhà, xa nước, tiếng kêu của con chim đỗ quyên càng khảm khắc.
Tôi nghe như Nguyễn Bính đang nhắc: Tết đến rồi! Hãy về bên thầy mẹ, về với vườn xưa hoa bưởi, hoa chanh, thắp nén trầm thơm theo khói bay mà tượng hình tiên tổ, mà tìm về thương yêu quá vãng. Mùa xuân trời đất là mãi mãi. Đời người thì có chừng, có độ. Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày/ Bao giờ em mới gặp anh đây/ Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ/ Để mẹ em rằng hát tối nay?
Hội hát sẽ từ xuân này vui sang xuân khác. Còn ta, ngày mai sẽ muộn…
Nguyễn Sĩ Đại