Theo Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam (VICOFA), tổng sản lượng cà phê năm 2025 ước đạt khoảng 1,8-2 triệu tấn (tăng 9% so với niên vụ trước). Xuất khẩu cà phê của Việt Nam năm 2025 đạt 1,59 triệu tấn, trị giá 8,9 tỷ USD. Ngành hàng cà phê đang tạo việc làm và thu nhập cho nhiều nông dân, thành viên HTX.
Tận dụng vỏ cà phê làm phân bón
Tuy nhiên, theo tính toán của các nhà chuyên môn, nếu sản xuất và chế biến 1 tấn cà phê nhân sẽ đưa ra môi trường khoảng 0,5-0,6 tấn vỏ khô. Còn theo Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ NN&MT), vẫn có khoảng 70% - 80% lượng vỏ cà phê tại một số địa phương chuyên trồng loại cây này chưa được xử lý triệt để, bị đổ thải tự nhiên hoặc đốt lộ thiên, gây ô nhiễm môi trường và phát thải khí nhà kính.
Có thể thấy, ngành hàng cà phê đang mang lại giá trị kinh tế không hề nhỏ, nhưng đi liền với đó là áp lực về giải quyết bài toán môi trường và nâng cao giá trị kinh tế.
Vỏ cà phê nếu không được xử lý sẽ gây ô nhiễm môi trường.
Trong một tọa đàm gần đây, ông Imai Toshiro - Tổng Giám đốc Công ty TNHH Phúc Lai (Flix) Communication, cũng cho rằng mặc dù đã có những tiến bộ nhưng mức đầu tư vào chế biến sâu của cà phê Việt Nam vẫn còn hạn chế so với quy mô sản xuất. Nếu không nâng cao đáng kể về chế biến sâu đi đôi với sản xuất bền vững, cà phê Việt Nam có nguy cơ bị mắc kẹt trong vai trò “nhà cung cấp sản lượng lớn” thay vì trở thành bên “tạo ra giá trị gia tăng”.
Trước áp lực thị trường, dưới góc nhìn của nhiều HTX, vỏ cà phê không chỉ đơn thuần là phế phụ phẩm mà đây còn là một mỏ vàng cần được tận dụng khai thác. Nhất là khi kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn đang được coi trọng và cả vấn đề NetZero đang nóng trên toàn cầu. Nếu các HTX muốn xuất khẩu cà phê thuận lợi thì vấn đề giảm phát thải nhà kính từ khâu trồng trọt, xử lý chất thải từ vỏ cà phê cần được coi trọng.
Chính vì vậy, thời gian gần đây, HTX Nông trại Sa Mù (Quảng Trị) đã chú trọng sản xuất theo chuỗi khi tận dụng vỏ cà phê để ủ thành phân hữu cơ vi sinh. Việc sử dụng chế phẩm sinh học phân giải vỏ cà phê làm phân hữu cơ vi sinh phục vụ sản xuất nông nghiệp tại chỗ được các thành viên HTX đánh giá là dễ áp dụng, tiết kiệm chi phí phân bón cho người dân. Cách làm này của HTX cũng mang lại nhiều hiệu quả kinh tế, môi trường sinh thái và môi trường sản xuất. Đồng thời qua đó làm thay đổi nhận thức của nông dân trong sản xuất nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường và sản xuất bền vững.
Tương tự, tại HTX nông nghiệp dịch vụ công bằng Ea Tu (Đắk Lắk) cũng đã tận dụng vỏ cà phê để ủ với phân chuồng và men vi sinh tạo thành phân hữu cơ. Phân hữu cơ này được dùng để bón cho vùng trồng cà phê. Đối với những khu vực bón phân hữu cơ từ vỏ cà phê thì đất tơi xốp, giun sinh sống rất tốt so với bón phân hóa học.
Tại Sơn La, HTX Thái Việt ngoài chú trọng xử lý nước thải từ quá trình chế biến cà phê còn tiến hành ủ vỏ cà phê thành phân hữu cơ vi sinh. Cách làm này giúp HTX tiết kiệm chi phí bón phân và cho kết quả tốt hơn về môi trường, tăng tính chủ động trong quản lý chất thải.
Có thể thấy, giá phân bón vô cơ hiện nay biến động liên tục trên thị trường khiến các HTX, người dân trồng cà phê gặp nhiều khó khăn. Nhưng khi các HTX chủ động áp dụng khoa học công nghệ vào ủ vỏ cà phê thành phân vi sinh, có thể giúp giảm tới 20- 30% chi phí canh tác. Đây là bước đi hiệu quả giúp giảm chi phí đầu vào, nâng cao sức cạnh tranh cho HTX trên thị trường.
Gia tăng giá trị kinh tế
Không chỉ dừng lại ở việc tận dụng vỏ cà phê để làm phân hữu cơ bón cho chính diện tích cây trồng của các thành viên, đã có những HTX còn chú trọng nghiên cứu thị trường, nâng cao giá trị kinh tế từ vỏ cà phê.
Tiêu biểu là HTX cà phê Bích Thao (Sơn La) đang sản xuất theo mô hình kinh tế tuần hoàn, tận dụng tối đa phụ phẩm. Trong đó, vỏ quả cà phê được HTX chế biến thành trà.
Muốn chế biến được trà từ vỏ, yêu cầu thu hái cà phê chín phải từ 95%.
Qua nghiên cứu thấy trà siro vỏ cà phê có giá trị kinh tế cao gấp nhiều lần so với các sản phẩm cà phê nhân truyền thống, ông Nguyễn Xuân Thao, Giám đốc HTX Bích Thao đã sản xuất trà siro vỏ cà phê phục vụ xuất khẩu thành công. Ở nước ngoài, trà siro vỏ cà phê được nhiều người biết đến và yêu thích bởi có vị ngọt tự nhiên, giàu vitamin, chứa rất ít chất kích thích, có tác dụng tốt cho sức khỏe như làm mát gan, giảm mỡ máu... Đặc biệt, sản xuất trà siro vỏ cà phê còn khai thác triệt để quả cà phê. Trong quá trình sản xuất, chế biến cà phê, HTX cũng không hề sử dụng nước nên vừa đảm bảo chất lượng vỏ cà phê chế biến thành trà, vừa tiết kiệm lại không gây ô nhiễm môi trường.
Theo ông Nguyễn Xuân Thao, xu hướng sử dụng trà từ vỏ cà phê đang bùng nổ tại thị trường châu Âu và Mỹ. Những tấn vỏ được tuyển chọn từ quy trình chế biến sạch có thể mang lại giá trị kinh tế cao gấp nhiều lần so với việc bán cà phê nhân thô.
Hơn thế, giá bán trong nước của loại trà này cũng đã khoảng 1,4-1,5 triệu đồng/kg, cao nhiều lần so với cà phê. Nhiều loại cà phê ngon hiện có giá 700.000-800.000 đồng/kg. Đây là minh chứng rõ ràng cho việc HTX đã biến phụ phẩm thành sản phẩm có giá trị gia tăng, mở ra hướng đi mới đầy tiềm năng.
Có thể thấy, trong bối cảnh biến đổi khí hậu và yêu cầu ngày càng cao về phát triển nông nghiệp xanh, các mô hình xử lý vỏ cà phê như tại các HTX đang làm được đánh giá là hướng đi cần thiết.
Việc xử lý vỏ cà phê, vốn được coi là một chất thải, giúp các HTX dễ dàng đạt được các chứng chỉ bền vững như EUDR (Quy định chống phá rừng của EU) hay 4C, giúp hạt cà phê của HTX có thể vượt qua các tiêu chuẩn của thị trường quốc tế tế và bán với giá cao hơn. Đặc biệt, việc chế biến sâu từ vỏ cà phê giúp gia tăng giá trị kinh tế, đa dạng danh sách sản phẩm cho HTX.
Khai thác tối ưu vỏ cà phê trong quá trình sản xuất cũng chính là sự thay đổi tư duy, nhanh nhạy trong kinh doanh bền vững của các nhà quản lý HTX hiện đại.
Các chuyên gia cho rằng, chế biến vỏ cà phê rất cần vai trò của các HTX để tập hợp người dân thu gom và xử lý, chế biến trên quy mô lớn. HTX cũng đủ tư cách pháp nhân để tiếp cận các chính sách hỗ trợ về máy móc, công nghệ khi có phương án sản xuất kinh doanh rõ ràng. Đặc biệt, các gói vay ưu đãi cho kinh tế tuần hoàn đang ưu tiên những đơn vị có mô hình giảm phát thải minh bạch. Do đó, các HTX đi theo hướng xanh, tuần hoàn sẽ có nhiều cơ hội và lợi thế.
Tùng Lâm