Nghị quyết số 115/2025/UBTVQH15 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về giám sát văn bản quy phạm pháp luật.
Quốc hội biểu quyết thông qua Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân (sửa đổi), ngày 10/12/2025. Ảnh: Doãn Tấn/TTXVN
Nghị quyết số 113/2025/UBTVQH15 nêu rõ: Chương trình giám sát của Quốc hội được xây dựng căn cứ vào đường lối, chủ trương của Đảng, quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội, chương trình lập pháp hằng năm, kết quả thực hiện chương trình giám sát năm trước của Quốc hội, đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ý kiến, kiến nghị của cử tri cả nước và tình hình thực tế.
Chương trình giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội được xây dựng căn cứ vào đường lối, chủ trương của Đảng, quy định của luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chương trình lập pháp và chương trình giám sát của Quốc hội, kết quả thực hiện chương trình giám sát năm trước của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, ý kiến, kiến nghị của cử tri cả nước và tình hình thực tế.
Quốc hội quyết định chương trình giám sát năm sau tại kỳ họp Quốc hội thường lệ giữa năm của năm trước.
Quốc hội biểu quyết thông qua nghị quyết về chương trình giám sát của Quốc hội. Nghị quyết gồm những nội dung chính là: Các nội dung Quốc hội trực tiếp giám sát; các nội dung giao Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức thực hiện và báo cáo kết quả thực hiện với Quốc hội (nếu có); trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân; biện pháp tổ chức thực hiện.
Số lượng, nội dung giám sát trong năm phải bảo đảm tính khả thi, phù hợp với khả năng tổ chức thực hiện của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và tình hình thực tế; tránh trùng lặp về nội dung, thời gian, địa bàn, đối tượng giám sát; hình thức giám sát phải phù hợp với nội dung giám sát.
Chậm nhất 30 ngày kể từ ngày Quốc hội thông qua nghị quyết về chương trình giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua nghị quyết về chương trình giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trên cơ sở đề nghị của Thường trực Ủy ban Dân nguyện và Giám sát.
Về thực hiện các hoạt động giám sát, hoạt động chất vấn và xem xét việc trả lời chất vấn tại kỳ họp Quốc hội, Nghị quyết nêu: Nội dung chất vấn được lựa chọn theo một trong các tiêu chí sau đây:
Vấn đề bức xúc, nổi lên ở tầm vĩ mô hoặc ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước được đại biểu Quốc hội, cử tri và nhân dân quan tâm, kiến nghị hoặc vấn đề khác do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định phù hợp với yêu cầu giám sát và thực tiễn của đất nước.
Vấn đề nhằm nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành, quản lý nhà nước hoặc qua giám sát, khảo sát phát hiện hạn chế, bất cập cần được chất vấn để làm rõ và đưa ra những yêu cầu, giải pháp để kịp thời khắc phục.
Vấn đề có dấu hiệu vi phạm quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; có dấu hiệu gia tăng vi phạm pháp luật và tội phạm; hạn chế trong giải quyết việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của cử tri và cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Vấn đề chất vấn đã được người bị chất vấn trả lời bằng văn bản nhưng đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời, được Ủy ban Thường vụ Quốc hội đồng ý trình Quốc hội xem xét cho trả lời tại kỳ họp Quốc hội.
Không thuộc những vấn đề đã được nêu trong nghị quyết về giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong thời gian 12 tháng tính đến thời điểm chất vấn.
Việc lựa chọn nội dung chất vấn phải phù hợp với thời gian tổ chức phiên chất vấn. Người bị chất vấn được lựa chọn phù hợp với nhóm vấn đề chất vấn.
Nghị quyết số 115/2025/UBTVQH15 quy định rõ mục đích giám sát văn bản quy phạm pháp luật. Theo đó, giám sát văn bản quy phạm pháp luật gắn với việc nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật, phù hợp với thực tiễn, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; tăng cường hiệu quả công tác tổ chức thi hành pháp luật.
Phát hiện nội dung trái với Hiến pháp, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên hoặc không còn phù hợp, văn bản quy phạm pháp luật ban hành không đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức để tự mình hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, tạm ngưng hiệu lực, đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản; kịp thời xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị, yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền xử lý người vi phạm.
Phát hiện việc chậm ban hành văn bản quy định chi tiết điều, khoản, điểm và các nội dung khác được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên để kịp thời đôn đốc, yêu cầu cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền được giao ban hành văn bản.
TTXVN/Báo Tin tức và Dân tộc