An ninh lương thực trở thành lợi thế chiến lược
Từ một quốc gia từng đối mặt với nạn đói năm 1945, Việt Nam đã vươn lên nhóm những nước xuất khẩu lương thực hàng đầu thế giới. Theo ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi, hành trình phát triển ấy cho thấy nông nghiệp không chỉ bảo đảm sinh kế mà đang dần trở thành lợi thế chiến lược của nền kinh tế.
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, xung đột địa chính trị và nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng gia tăng, an ninh lương thực ngày càng trở thành yếu tố cốt lõi bảo đảm ổn định và phát triển bền vững của các quốc gia. Với lợi thế tự nhiên, khí hậu đa dạng và năng lực sản xuất lớn, nông nghiệp Việt Nam được đánh giá có nhiều điều kiện để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng lương thực toàn cầu.
Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh là yêu cầu tất yếu với ngành nông nghiệp
Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này, ngành nông nghiệp không thể tiếp tục phát triển theo mô hình nhỏ lẻ, phân tán và tăng trưởng theo chiều rộng. “Chuyển đổi số và chuyển đổi xanh là yêu cầu mang tính tất yếu khách quan với ngành”, ông Nguyễn Quang Huy nhấn mạnh.
Hơn nữa, các thị trường lớn ngày càng siết tiêu chuẩn môi trường, phát thải carbon và truy xuất nguồn gốc. Điều này khiến “xanh hóa” dần trở thành điều kiện bắt buộc để nông sản tham gia sâu hơn vào thị trường quốc tế.
Trong quá trình đó, tín dụng xanh được xem là công cụ quan trọng thúc đẩy chuyển đổi mô hình sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông nghiệp Việt Nam.
Cần thay đổi cách dẫn vốn cho nông nghiệp
Theo thống kê năm 2025, dư nợ tín dụng nông nghiệp đạt hơn 4 triệu tỷ đồng, chiếm 23 - 25% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Tuy nhiên, phần lớn khoản vay vẫn dựa trên tài sản bảo đảm theo mô hình truyền thống. Trong khi đó, dư nợ tín dụng xanh đến cuối năm 2025 đạt 780.000 - 850.000 tỷ đồng nhưng tỷ trọng dành cho nông nghiệp, nông sản và thủy sản chỉ chiếm hơn 3%.
Theo ông Nguyễn Quang Huy, Chính phủ đã có bước đi quan trọng khi ban hành Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg về tiêu chí môi trường và xác nhận dự án thuộc danh mục phân loại xanh. Đây là nền tảng đầu tiên để thúc đẩy tín dụng xanh phát triển bài bản hơn. Tuy nhiên, việc triển khai vẫn thiếu đồng bộ do chưa có bộ tiêu chí xanh thống nhất cho toàn hệ thống ngân hàng. Mỗi tổ chức tín dụng hiện áp dụng một chuẩn đánh giá khác nhau, khiến doanh nghiệp khó tiếp cận vốn và quá trình thẩm định thiếu tính nhất quán.
Bên cạnh đó, mô hình tín dụng hiện nay cũng bộc lộ nhiều hạn chế khi dòng vốn chủ yếu cấp cho từng hộ sản xuất nhỏ lẻ, trong khi nông nghiệp xanh và nông nghiệp số đòi hỏi sự liên kết chặt chẽ theo chuỗi giá trị. Điều này khiến hiệu quả sử dụng vốn chưa cao và khó hình thành các vùng sản xuất quy mô lớn.
Một thách thức khác là nền tảng dữ liệu nông nghiệp hiện còn thiếu và rời rạc. Trong khi đó, tín dụng xanh và tín dụng số muốn phát triển hiệu quả phải dựa trên dữ liệu minh bạch, khả năng truy xuất nguồn gốc và đo lường rủi ro theo thời gian thực.
Không chỉ nông dân gặp khó, ngay cả doanh nghiệp và hợp tác xã cũng thiếu năng lực đáp ứng yêu cầu chuyển đổi xanh. Doanh nghiệp còn hạn chế về tiêu chuẩn ESG (quản trị, xã hội, môi trường); hợp tác xã yếu về quản trị; còn nhiều nông dân thiếu kỹ năng số và khả năng tiếp cận công nghệ.
Theo các chuyên gia, nếu không tháo gỡ đồng thời các rào cản về dữ liệu, liên kết sản xuất và cơ chế tín dụng, quá trình chuyển đổi sang nông nghiệp xanh và nông nghiệp số sẽ khó diễn ra nhanh như kỳ vọng.
Tín dụng phải gắn với dữ liệu và chuỗi giá trị
Yêu cầu định hướng lại dòng vốn cho nông nghiệp được đặt ra trong bối cảnh triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, trong đó xác định phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh; thúc đẩy mạnh nông nghiệp xanh, nông nghiệp số và kinh tế tuần hoàn.
Theo ông Nguyễn Quang Huy, vấn đề hiện nay không đơn thuần là mở rộng hạn mức cho vay hay hạ lãi suất, mà là tái thiết toàn bộ hệ sinh thái nông nghiệp, từ dòng vốn, dữ liệu, công nghệ đến thể chế. Trong đó, dòng vốn cần chuyển từ cấp vốn đơn lẻ sang cấp vốn theo chuỗi giá trị. Điều này đồng nghĩa ngân hàng không chỉ đánh giá từng hộ sản xuất riêng biệt mà phải nhìn vào toàn bộ chuỗi từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ. Khi dòng vốn gắn với chuỗi giá trị, khả năng kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc và đáp ứng tiêu chuẩn xanh sẽ hiệu quả hơn.
Cùng với việc thúc đẩy tích tụ đất đai và phát triển cánh đồng lớn, ông Huy cho rằng cần sớm xây dựng hệ sinh thái dữ liệu số cho nông nghiệp, tích hợp dữ liệu sản xuất, môi trường và truy xuất nguồn gốc nhằm hình thành nền tảng dữ liệu lớn phục vụ quản trị và cấp tín dụng. Đồng thời, thúc đẩy “bình dân học vụ số”, giúp nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nâng cao kỹ năng số. Đây là điều kiện quan trọng để tín dụng xanh và tín dụng số phát triển hiệu quả hơn, thay vì tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào tài sản thế chấp.
Đặc biệt, theo ông Huy, Nhà nước cần sớm hoàn thiện bộ chuẩn tín dụng xanh thống nhất cho toàn hệ thống ngân hàng, đồng thời có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp đạt chứng nhận xanh và tiếp cận thị trường xuất khẩu bền vững. Bên cạnh đó, việc phát triển quỹ bảo lãnh tín dụng xanh và bảo hiểm nông nghiệp sẽ là “tấm đệm” giúp giảm rủi ro cho cả ngân hàng và người vay.
Giới chuyên gia nhận định, khi dữ liệu được kết nối, chuỗi giá trị được hình thành và dòng vốn được dẫn dắt đúng hướng, tín dụng xanh sẽ không chỉ là nguồn vốn hỗ trợ sản xuất mà còn có thể trở thành động lực thúc đẩy nông nghiệp Việt Nam chuyển sang mô hình hiện đại, bền vững và có sức cạnh tranh cao hơn trên thị trường toàn cầu.
Đức Kiên - Hà Lan - Minh Châu thực hiện