Hướng tới xây dựng hệ thống dự trữ xăng dầu quốc gia quy mô lớn hơn

Hướng tới xây dựng hệ thống dự trữ xăng dầu quốc gia quy mô lớn hơn
2 giờ trướcBài gốc
Trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới liên tục biến động do căng thẳng địa chính trị, gián đoạn chuỗi cung ứng và những rủi ro khó lường từ các cuộc xung đột khu vực, câu chuyện tăng cường dự trữ xăng dầu quốc gia đang nhận được nhiều sự quan tâm. Nhiều chuyên gia cho rằng việc xây dựng hệ thống dự trữ xăng dầu quy mô hợp lý không chỉ giúp Việt Nam chủ động hơn trước những cú sốc nguồn cung, mà còn góp phần bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô.
Trao đổi với PetroTimes, chuyên gia năng lượng Đào Nhật Đình nhận định, với quốc gia còn nhập khẩu một phần năng lượng như Việt Nam, việc dự trữ xăng dầu và dầu thô gần như là yêu cầu bắt buộc.
Theo ông Đào Nhật Đình, hiện nay Việt Nam vẫn phải nhập khẩu xăng dầu phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước. Điều này đồng nghĩa với việc thị trường năng lượng trong nước dễ bị tác động khi nguồn cung thế giới biến động. Nếu không có nguồn dự trữ đủ mạnh, nền kinh tế có thể rơi vào thế bị động khi xảy ra khủng hoảng năng lượng, xung đột địa chính trị hoặc các sự cố làm gián đoạn vận tải quốc tế.
Theo chuyên gia năng lượng Đào Nhật Đình, về lâu dài Việt Nam nên thành lập một cơ quan dự trữ quốc gia do Nhà nước quản lý, tương tự cơ chế dự trữ gạo hoặc các mặt hàng thiết yếu khác.
“Dự trữ xăng dầu, đặc biệt là cả xăng dầu thành phẩm và dầu thô, gần như là yêu cầu bắt buộc đối với những quốc gia nhập khẩu năng lượng. Khi thị trường thế giới xảy ra biến động, nguồn dự trữ sẽ đóng vai trò như một ‘vùng đệm’ giúp nền kinh tế duy trì hoạt động ổn định”, ông Đào Nhật Đình nhấn mạnh.
Thực tế, Việt Nam hiện đã có hệ thống dự trữ xăng dầu, nhưng phần lớn nằm tại các doanh nghiệp đầu mối. Những doanh nghiệp lớn như Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) hay Tổng công ty Dầu Việt Nam (PVOIL), đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đang đảm nhiệm vai trò dự trữ và cung ứng cho thị trường. Đây là hình thức doanh nghiệp dự trữ theo cơ chế Nhà nước hỗ trợ chi phí.
Tuy nhiên, theo chuyên gia Đào Nhật Đình, mô hình này chỉ mang tính chất giải pháp trước mắt. Về lâu dài, Việt Nam cần xây dựng hệ thống kho dự trữ quốc gia độc lập, tách biệt với kho thương mại của doanh nghiệp. Trong quy hoạch tổng thể năng lượng quốc gia, Việt Nam cũng đã tính đến việc xây dựng kho dự trữ quốc gia riêng, bao gồm cả dầu thô, nguyên liệu đầu vào quan trọng cho các nhà máy lọc dầu trong nước.
Việc dự trữ dầu thô được xem là bước đi quan trọng nhằm tăng tính chủ động cho ngành năng lượng. Khi nguồn cung quốc tế gặp gián đoạn, các nhà máy lọc dầu trong nước vẫn có thể duy trì hoạt động nhờ nguồn nguyên liệu dự trữ.
Một trong những vấn đề được nhiều chuyên gia quan tâm là quy mô dự trữ xăng dầu của Việt Nam hiện vẫn còn khá khiêm tốn so với nhiều quốc gia. Cụ thể, ngày 18/7/2023, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 861/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu và khí đốt quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Theo quy hoạch, hệ thống dự trữ xăng dầu được phát triển theo ba tầng gồm dự trữ sản xuất, dự trữ thương mại và dự trữ quốc gia.
Trong đó, hạ tầng dự trữ sản xuất tại các nhà máy lọc dầu được bảo đảm đủ năng lực lưu trữ dầu thô, nguyên liệu và sản phẩm để duy trì hoạt động ổn định, tương đương tối thiểu 20 ngày nhập khẩu ròng trong giai đoạn 2021-2030, tăng lên 25 ngày sau năm 2030. Hạ tầng dự trữ thương mại được mở rộng với sức chứa tăng thêm 2,5-3,5 triệu m³ trong giai đoạn 2021-2030, hướng tới tổng sức chứa khoảng 10,5 triệu m³ sau năm 2030, đáp ứng khoảng 30-35 ngày nhập khẩu ròng.
Đối với dự trữ quốc gia, quy hoạch đặt mục tiêu xây dựng hệ thống kho với sức chứa 500.000-1 triệu m³ xăng dầu thành phẩm và 1-2 triệu tấn dầu thô, đáp ứng 15-20 ngày nhập khẩu ròng trong giai đoạn 2021-2030; sau năm 2030 nâng lên 25-30 ngày nhập khẩu ròng. Trong giai đoạn 2021-2030, dự kiến xây mới khoảng 500.000 m³ kho xăng dầu dự trữ quốc gia, đồng thời xây dựng 1-2 kho dự trữ dầu thô gần các nhà máy lọc dầu như Nhà máy Lọc dầu Dung Quất, Nhà máy Lọc hóa dầu Nghi Sơn và Tổ hợp Hóa dầu Long Sơn, với tổng công suất khoảng 1-2 triệu tấn dầu thô. Mục tiêu là từng bước nâng cao năng lực dự trữ năng lượng, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và ổn định nguồn cung xăng dầu cho nền kinh tế.
Mức dự trữ xăng dầu 30-60 ngày phù hợp với Việt Nam hiện nay (Ảnh minh họa)
Dù vậy, theo ông Đào Nhật Đình, con số này vẫn còn khoảng cách khá xa so với các nước phát triển. Những quốc gia có tiềm lực kinh tế mạnh như Mỹ hay Nhật Bản thường duy trì mức dự trữ có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong khoảng 90 ngày, thậm chí dài hơn.
Tuy nhiên, việc nâng mức dự trữ lên cao không phải là điều dễ dàng, bởi dự trữ xăng dầu đòi hỏi chi phí đầu tư và vận hành rất lớn. Không chỉ cần nguồn vốn lớn để xây dựng kho bãi và hạ tầng kỹ thuật, việc bảo quản xăng dầu trong thời gian dài cũng là bài toán phức tạp.
“Xăng dầu hay dầu thô nếu để lâu đều có thể xuống cấp hoặc biến đổi chất lượng. Vì vậy, hệ thống kho dự trữ phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật rất cao, đồng thời phải có quy trình quay vòng nhiên liệu chặt chẽ để bảo đảm chất lượng”, ông Đào Nhật Đình cho biết.
Từ góc độ kinh tế, chuyên gia Đinh Trọng Thịnh cũng cho rằng việc tăng cường dự trữ xăng dầu là cần thiết để bảo đảm ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh và giảm thiểu tác động từ những biến động của thị trường năng lượng toàn cầu. Theo ông Đinh Trọng Thịnh, trong bối cảnh thế giới tiềm ẩn nhiều rủi ro như chiến tranh, xung đột khu vực hoặc gián đoạn chuỗi cung ứng, nguồn dự trữ xăng dầu đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Khi xảy ra khủng hoảng năng lượng, hoạt động vận tải quốc tế có thể bị gián đoạn, khiến việc nhập khẩu xăng dầu trở nên khó khăn và chi phí tăng cao.
“Trong những trường hợp như vậy, nếu không có nguồn dự trữ đủ lớn, nền kinh tế sẽ gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, việc nâng dần mức dự trữ xăng dầu là cần thiết để chủ động hơn trước các cú sốc từ bên ngoài”, ông Đinh Trọng Thịnh nhận định.
Tuy nhiên, vị chuyên gia cũng cho rằng việc nâng cao năng lực dự trữ xăng dầu không chỉ phụ thuộc vào quyết tâm chính sách mà còn chịu nhiều ràng buộc về nguồn lực. Việc xây dựng hệ thống kho dự trữ quy mô lớn đòi hỏi quỹ đất phù hợp, vị trí địa lý thuận lợi cho vận chuyển cũng như hạ tầng logistics đồng bộ.
Bên cạnh đó, lượng xăng dầu cần dự trữ rất lớn, đồng nghĩa với việc Nhà nước phải chuẩn bị nguồn tài chính và ngoại tệ để nhập khẩu. Đây là những thách thức không nhỏ đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam.
Dù còn nhiều khó khăn, các chuyên gia cho rằng việc từng bước xây dựng hệ thống dự trữ xăng dầu quốc gia là hướng đi cần thiết trong dài hạn. Theo chuyên gia Đào Nhật Đình, về lâu dài Việt Nam nên thành lập một cơ quan dự trữ quốc gia do Nhà nước quản lý, tương tự cơ chế dự trữ gạo hoặc các mặt hàng thiết yếu khác. Cơ quan này sẽ được Nhà nước cấp ngân sách để mua vào và duy trì lượng dự trữ, đồng thời xây dựng quy trình quản lý và quay vòng nhiên liệu chặt chẽ nhằm bảo đảm chất lượng. Khi điều kiện kinh tế phát triển hơn, Việt Nam có thể từng bước nâng cao quy mô dự trữ để tăng khả năng ứng phó với các cú sốc của thị trường năng lượng toàn cầu.
Trong giai đoạn hiện nay, theo đánh giá của các chuyên gia, mức dự trữ khoảng 30-60 ngày có thể là mục tiêu phù hợp với điều kiện của nền kinh tế. Quan trọng hơn, việc xây dựng hệ thống dự trữ cần được triển khai theo lộ trình dài hạn, gắn với chiến lược bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và phát triển bền vững của nền kinh tế.
Trước diễn biến phức tạp của tình hình Trung Đông, Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã chủ động kích hoạt hàng loạt giải pháp ứng phó từ sớm, đồng thời triển khai Nghị quyết 36/NQ-CP nhằm bảo đảm nguồn cung năng lượng cho thị trường trong nước.
Ngày 1/3, Petrovietnam ban hành Công văn số 1433/CNNL-TMDV yêu cầu các đơn vị tăng cường điều hành nguồn cung, xây dựng các kịch bản bảo đảm đủ xăng dầu cho thị trường nội địa trong mọi tình huống.
Tiếp đó, ngày 2/3, Petrovietnam báo cáo Thủ tướng Chính phủ cùng các Bộ Công Thương, Tài chính và Ngoại giao về tác động của xung đột Trung Đông đối với thị trường xăng dầu trong nước, đồng thời kiến nghị các giải pháp ứng phó.
Đến ngày 3/3, Tập đoàn tiếp tục ban hành Chỉ thị số 1502/CT-CNNL yêu cầu các đơn vị bám sát diễn biến thị trường, tăng cường dự báo và triển khai các giải pháp ứng phó. Cùng ngày, Petrovietnam có văn bản gửi Công ty TNHH Lọc hóa dầu Nghi Sơn (NSRP) đề nghị thực hiện các biện pháp cấp thiết nhằm duy trì vận hành ổn định của nhà máy.
Đình Khương
Nguồn PetroTimes : https://petrotimes.vn/huong-toi-xay-dung-he-thong-du-tru-xang-dau-quoc-gia-quy-mo-lon-hon-738603.html