Thiên sử thi về tình yêu và hành trình kiến tạo
Chử Đồng Tử là một trong Tứ bất tử của tín ngưỡng dân gian Việt Nam - một hình tượng quan trọng trong văn hóa, được tôn thờ như một vị thánh. Ông được coi là tổ nghề buôn bán và tư duy làm giàu của người Việt. Các nhà nghiên cứu đánh giá Chử Đồng Tử là một trong những hình tượng văn hóa đẹp nhất trong hệ thống mã biểu tượng của văn hóa Việt.
Cảnh trong phim “Huyền tình Dạ Trạch”.
Phim kể lại câu chuyện tình nổi tiếng giữa Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung - đặt trong bối cảnh những cộng đồng người Việt cổ thuở hồng hoang đang khai phá, dựng xây và bảo vệ không gian sinh tồn tại Đồng bằng Bắc Bộ. Ở trung tâm của mọi biến động, "Huyền tình Dạ Trạch" là câu chuyện của hai con người chọn yêu nhau và từ đó, thay đổi cả một cộng đồng. Tình yêu giữa Chử Đồng Tử và Tiên Dung không được sinh ra từ quyền lực hay sự sắp đặt, mà từ sự đồng cảm sâu sắc giữa hai tâm hồn tự do, dám vượt qua ranh giới thân phận, định kiến và trật tự cũ.
Trong "Huyền tình Dạ Trạch", tình yêu không phải đích đến mà là khởi nguồn của một nền tảng văn hóa và một cộng đồng bền vững. Bộ phim tái hiện hành trình từ lập nghiệp - đấu tranh sinh tồn - làm chủ thiên nhiên của cư dân Văn Lang, trong đó Chử Đồng Tử hiện lên như một biểu tượng: người tiên phong, dẫn dắt, giáo hóa muôn dân. Truyền thuyết dân gian được kết hợp hài hòa với các yếu tố lịch sử, văn hóa, tạo nên một thiên sử thi trong một giai đoạn chuyển mình của người Việt cổ.
Bộ phim giúp khán giả hình dung sinh động về không gian sống của người Việt cổ, thời kỳ Văn Lang và các yếu tố văn hóa tiền Đông Sơn, từ các nghi lễ truyền thống như xăm mình, lễ bắn dâu tằm, đấu vật, tín ngưỡng dân gian, đến các kỹ nghệ thủ công như đúc đồng, chế tác vũ khí, đóng thuyền, làm gốm, nông nghiệp và thủy lợi. Phim được quay tại nhiều địa điểm mang giá trị cảnh quan - văn hóa đặc sắc. Trong đó, nhiều cảnh quay được thực hiện trực tiếp tại Chử Xá, Gia Lâm, Hà Nội (cũ), nơi Chử Đồng Tử sinh ra và vùng đất đầm Dạ Trạch (Khoái Châu, Hưng Yên), nơi gắn liền với huyền tích của hai nhân vật chính là Chử Đồng Tử và Tiên Dung.
Dù làm phim về một thời đại khá xa trong lịch sử dân tộc, nhưng mong muốn của ê-kíp là làm thế nào để có thể phá bỏ những rào cản, định kiến về phim lịch sử, huyền sử và kéo được giới trẻ đến rạp. Bởi, văn hóa, lịch sử không nên là những bài học khô khan mà nó phải được hiện diện sống động qua nhiều phương thức khác nhau, trong đó điện ảnh là một trong những phương tiện hữu hiệu.
Đưa huyền sử tiếp cận với giới trẻ cùng hệ sinh thái merchandise
Theo ông Nguyễn Kim Khiêm (Tổng giám đốc Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội cũ) khi xây dựng các dự án phim về lịch sử và văn hóa Việt Nam, ông và ê-kíp sản xuất mong muốn công chúng - đặc biệt là thế hệ trẻ - có thể hình dung một cách trực quan, rõ ràng về những gì cha ông đã tạo dựng, về không gian lịch sử - văn hóa của tổ tiên.
Việt Nam có một lịch sử lâu đời, giàu chiều sâu và đáng tự hào không kém bất kỳ quốc gia nào trong khu vực hay trên thế giới. Song, thực tế cho thấy, không ít bạn trẻ hôm nay lại quen thuộc với những câu chuyện, điển tích của các nền văn hóa khác hơn là lịch sử của chính dân tộc mình, và hào hứng tiếp nhận giá trị văn hóa ngoại quốc nhiều hơn giá trị văn hóa Việt Nam.
Vấn đề đặt ra là: làm thế nào để chúng ta có thể kể lại những câu chuyện của chính mình một cách hấp dẫn, sinh động, có sức lan tỏa tương tự như cách mà các quốc gia có nền công nghiệp văn hóa phát triển như Hàn Quốc, Trung Quốc hay Hoa Kỳ đã và đang làm? "Với bất cứ người Việt nào, những câu chuyện, những giá trị được hun đúc qua hàng nghìn năm lịch sử của dân tộc vẫn luôn là niềm tự hào sâu sắc, bền vững và có sức lay động lớn hơn bất kỳ hình tượng nào đến từ bên ngoài", ông nói.
Các phong tục, trang phục, lễ hội của cư dân Việt cổ được dựng lại trong phim.
Với tinh thần đó, bộ phim được đầu tư công phu, chỉn chu với một ê-kíp sáng tạo trẻ. Bộ ba đạo diễn trẻ Tôn Văn, biên kịch Vũ Liêm và họa sĩ tạo hình Nguyễn Thành Phong là một bảo chứng cho chất lượng nghệ thuật và tiếng nói của những người trẻ về văn hóa, lịch sử của ông cha. Thay vì chỉ dựa trên yếu tố kỳ ảo, phim kết hợp giữa truyền thuyết và các tham luận khảo cổ về nhà nước Văn Lang thời Hùng Vương thứ 18, tạo nên một không gian văn hóa Việt cổ sống động.
Đặc biệt, để hấp dẫn giới trẻ, phim tiếp cận với công nghệ sản xuất hiện đại, kết hợp giữa truyền thuyết với kỹ xảo công nghệ cao để tái hiện thương cảng Dạ Trạch sầm uất và sự chuyển mình của người Việt cổ. Ngoài ra, ê-kíp sản xuất mở rộng trải nghiệm khán giả bằng hệ sinh thái merchandise mang đậm dấu ấn văn hóa Đông Sơn.
Lần đầu tiên, hình ảnh người Việt cổ được chuyển hóa thành những hình thức trải nghiệm cá nhân: các mẫu hình xăm nghệ thuật lấy cảm hứng từ họa tiết trống đồng, chim Lạc, sóng nước Dạ Trạch; socola tình yêu tạo hình củ ấu - biểu tượng của vùng đầm lầy, của sinh tồn và gắn kết đặc biệt dịp Lễ tình yêu như một cách kể chuyện bằng vị giác; phụ kiện trang sức thủ công từ gốm, đồng - tái hiện tinh thần chế tác của cư dân Đông Sơn trong ngôn ngữ thẩm mỹ đương đại.
Cùng với đó là artbook, bộ hình họa tương tác, cho phép người xem đặt chính mình vào hình ảnh người Việt cổ, không chỉ "xem phim" mà còn sống cùng thế giới Dạ Trạch. Khi bộ merchandise được nhận diện như một hệ sản phẩm thống nhất, mang ngôn ngữ tạo hình và câu chuyện xuyên suốt, "Huyền tình Dạ Trạch" vượt khỏi khuôn khổ một bộ phim để trở thành một thương hiệu văn hóa. Đây cũng là tư duy mới mẻ để tiếp cận khán giả trẻ, giải mã câu hỏi, làm sao để văn hóa nguồn cội có thể chạm được giới trẻ.
Có thể nói, "Huyền tình Dạ Trạch" không chỉ tôn vinh vẻ đẹp rực rỡ của một thời kỳ Đông Sơn - Văn Lang mà còn khơi gợi những giá trị về nguồn cội. Từ câu chuyện đạo hiếu của Chử Đồng Tử dành cho cha - giản dị mà lay động, đến một tình yêu vượt qua giới hạn của cảm xúc đôi lứa để trở thành tình yêu lớn lao hơn với cộng đồng, với đất nước, bộ phim mở ra một không gian nhân văn rộng lớn, chạm đến những giá trị cốt lõi của dân tộc Việt. Điện ảnh sẽ giúp thế hệ trẻ nhìn thấy thay vì chỉ nghe kể.
Cùng với "Huyền tình Dạ Trạch", một bộ phim huyền sử khác là "Hộ linh tráng sĩ - Bí ẩn mộ vua Đinh" cũng vừa đóng máy và dự kiến sẽ ra rạp vào cuối năm 2026. Đây là một tín hiệu mừng vì các nhà làm phim đã dũng cảm dấn thân vào những đề tài khó, dễ gây tranh cãi, góp phần làm đa dạng hơn đời sống phim Việt, làm cầu nối cho thế hệ hôm nay đến gần hơn với lịch sử. Bởi, khi được tiếp cận đúng cách, phim huyền sử không chỉ giải trí mà còn gieo mầm ý thức văn hóa.
Linh Nguyễn