Cộng đồng dân tộc Tày, Nùng nhiều năm qua vẫn gìn giữ và phát huy nét đẹp truyền thống, trong đó nổi bật là Lễ hội Lồng Tồng. Trong ảnh: Nhảy sạp tại lễ hội Lồng Tồng. (Ảnh: TTXVN)
Dân tộc Tày là dân tộc thiểu số đông nhất Việt Nam, với bề dày lịch sử truyền thống lâu đời, đa dạng và phong phú.
Đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào dân tộc Tày hết sức phong phú, đặc sắc, với kho tàng truyện cổ tích, thơ ca, hò vè hết sức phong phú, hệ thống nhạc cụ đa dạng và nhiều làn điệu dân ca như lượn, phong slư, phuối pác, phuối rọi, vén eng…. Dân tộc Tày cũng tổ chức nhiều ngày tết quanh năm và lễ hội mang đặc trưng của nền sản xuất nông nghiệp lúa nước.
Các lễ hội giàu tính văn hóa
Trong 1 năm người Tày có rất nhiều lễ hội theo mùa như: Tết nguyên đán, Tết thanh minh, Lễ hội Lồng Tồng (cầu mùa), Lễ hội Cầu An,... các lễ hội gắn với đời sống nông nghiệp như lễ hội khai hạ, lễ cầu mưa, lễ mừng cơm mới, và lễ hội Then.
Lễ hội Lồng Tồng
Được diễn ra vào mùng 2 Tết đến rằm tháng Giêng, thường kéo dài từ vài ngày đến một tuần tùy theo quy mô của từng địa phương. Lễ hội thường được tổ chức tại cánh đồng rộng lớn hoặc khu vực trung tâm của làng, để cầu mong một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và cuộc sống an lành, ấm no.
Trước lễ hội, Người Tày chuẩn bị xôi ngũ sắc, gà trống luộc, lợn quay hoặc bánh chưng, bánh dày, rượu, hoa quả; lúa, ngô, hạt giống; trang trí bàn thờ. Tiếp đó, mọi người mặc trang phục truyền thống, rước lễ từ nhà người tổ chức hoặc địa điểm trung tâm đến khu vực cúng tế.
Người chủ lễ thường là thầy cúng hoặc người cao niên trong làng, có uy tín và kinh nghiệm. Trình tự cúng bái gồm đốt hương, đọc bài khấn mời các vị thần linh như thần Nông, thần Đất, thần Mưa, tổ tiên và các linh hồn phù hộ cho dân làng. Dâng lễ vật và trình bày lời cầu mong cho mùa màng bội thu, vật nuôi phát triển, sức khỏe và sự thịnh vượng cho cộng đồng. Sau khi khấn xong, thầy cúng gieo vài hạt giống xuống đất, tượng trưng cho việc khởi đầu vụ mùa mới.
Trong nghi thức xuống đồng, người chủ lễ thực hiện các động tác cày bừa, gieo hạt đầu tiên trên thửa ruộng để khai xuân. Sau đó, người dân lần lượt thực hiện các công việc tượng trưng như gieo trồng, làm cỏ để cầu mong một năm làm ăn thuận lợi.
Trong lễ chia lộc, sau phần cúng lễ, lễ vật được chia cho mọi người tham dự để lấy may. Những hạt giống được gieo trong nghi lễ sẽ được thu lại và bảo quản, coi là "giống lộc" mang lại mùa màng tốt đẹp.
Khi các nghi thức tâm linh kết thúc, lễ hội chuyển sang các hoạt động vui chơi, giải trí sôi động gắn kết cộng đồng.
Nét văn hóa phong phú trong đời sống của đồng bào Tày. (Ảnh minh họa: Khánh Hòa/TTXVN)
Lễ hội Cầu An
Lễ cầu an thường được tổ chức vào đầu năm, khoảng tháng Giêng hoặc tháng Hai âm lịch, hoặc trước khi bắt đầu một vụ mùa quan trọng.
Lễ hội thường được tổ chức tại những nơi linh thiêng như đình, miếu, hoặc nhà văn hóa của làng. Trong một số trường hợp, lễ Cầu An diễn ra tại nhà người đứng đầu cộng đồng hoặc nhà thầy cúng, để cầu mong sức khỏe, bình an, và cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Trước lễ hội, người làng chuẩn bị xôi ngũ sắc, gà luộc, lợn quay, hoa quả, bánh chưng, bánh dày, rượu, giấy tiền vàng mã, các sản vật nông nghiệp như lúa, ngô, đậu để cầu mong sự no đủ.
Thầy cúng (người có uy tín và kinh nghiệm trong làng) chủ trì nghi lễ. Thầy cúng đọc bài khấn để mời các vị thần linh, tổ tiên về chứng giám và phù hộ. Các vị thần thường được nhắc đến bao gồm thần Nông, thần Đất, thần Rừng, và tổ tiên. Lễ vật được dâng lên bàn thờ để thể hiện lòng thành kính, kèm theo lời cầu chúc bình an, sức khỏe và hạnh phúc cho cả cộng đồng.
Nghi thức xua đuổi tà ma là một phần quan trọng của lễ cầu an, là nghi thức xua đuổi tà ma và tai ương. Thầy cúng thực hiện các động tác nghi lễ với sự hỗ trợ của các vật phẩm như dao, chuông, hoặc trống để xua đuổi điều xấu ra khỏi cộng đồng. Sau khi nghi lễ kết thúc, lễ vật được chia cho mọi người tham dự để mang lại may mắn. Sau phần lễ, người dân tổ chức các hoạt động vui chơi, giải trí.
Các lễ hội của dân tộc Tày đều giúp người dân cầu mong cuộc sống ấm no, sức khỏe và tránh khỏi thiên tai, dịch bệnh. Là dịp để người dân gặp gỡ, giao lưu văn hóa, tăng cường đoàn kết và thể hiện lòng biết ơn với tổ tiên, nguồn cội.
Âm nhạc nghệ thuật đặc sắc
Người Tày có rất nhiều các làn điệu dân ca như lượn, hát then, quan lang, hát ví, hát ru, hát đồng dao, văn tế,...
Hát Lượn là hình thức hát giao duyên tiêu biểu thường diễn ra trong hội làng ngày xuân, lễ cưới.
Hát Then là loại hình hát nghi lễ nổi bật, do thầy Then (ông/bà Then) thực hiện, vừa là tín ngưỡng vừa là nghệ thuật tổng hợp (hát, đàn tính, múa). Hát Then bắt nguồn từ cuộc sống lao động của người Tày cổ. Theo quan niệm dân gian, Then có nghĩa là Thiên, Thiên tức là “trời”, được coi là điệu hát của thần tiên truyền lại. Hát Then đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2019).
Về nhạc cụ, nhạc cụ đặc trưng là Đàn tính, trống, chiêng, pí lè, kèn pán tẩu,…Trong đó, đàn tính là loại nhạc cụ có mặt trong tất cả những sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Tày, như linh hồn trong nghệ thuật dân ca dân vũ Tày.
Điệu múa đặc sắc của đồng bào dân tộc Tày tại Lễ hội. (Ảnh: Hương Thu/TTXVN)
Trò chơi dân gian gắn kết cộng đồng
Ném còn là trò chơi phổ biến nhất, thường tổ chức trong hội Lồng tồng (xuống đồng). Nam nữ chia phe ném quả còn (làm bằng vải, nhồi hạt) qua vòng tròn trên cây còn mang ý nghĩa cầu mùa màng tươi tốt, đôi lứa nên duyên.
Đánh yến (đánh quay) là trò chơi dùng con quay bằng gỗ, quay thật mạnh rồi dùng dây quất để duy trì tốc độ rèn luyện sự khéo léo và sức khỏe.
Kéo co là trò chơi tập thể sôi nổi, gắn kết sức mạnh cộng đồng, thường diễn ra vào lễ hội, dịp Tết.
Tung còn giao duyên là trò chơi ngoài mục đích giải trí, đây còn là dịp để nam nữ thanh niên tìm hiểu, bày tỏ tình cảm, thu hút được sự tham gia của đông đảo người dân./.
(Vietnam+)