Đánh dấu chặng đường nửa thế kỷ mang trên mình sứ mệnh của một đô thị đầu tàu, TP.HCM đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới với tâm thế của “nhiệm kỳ hành động” và khát vọng tiên phong kiến tạo những đột phá. Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số, TP cần những động lực mới mạnh mẽ hơn, đột phá hơn.
Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP.HCM nêu rõ trong kỷ nguyên mới TP cần phát huy vai trò là một đô thị đặc biệt; tiên phong mở đường về mô hình phát triển, thể chế và phương thức quản trị hiện đại; tạo sức lan tỏa mạnh mẽ, đóng góp ngày càng lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.
PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình, Viện trưởng Viện Phát triển chính sách ĐHQG-HCM, Trường ĐH Kinh tế - Luật, đã định danh “5 đôi cánh” nền tảng giúp TP.HCM tháo gỡ điểm nghẽn, sẵn sàng cho một cú bứt phá mang tính lịch sử.
“5 đôi cánh” nền tảng
. Phóng viên: Nhìn vào bài toán phát triển tổng thể, ông định danh những “đôi cánh” cốt lõi mà TP.HCM cần trang bị để bứt phá trong kỷ nguyên mới là gì?
+ PGS-TS Đỗ Phú Trần Tình: TP.HCM không thể bứt phá nếu tiếp tục xử lý các điểm nghẽn theo tư duy đơn lẻ. Theo đó, TP cần được trang bị đồng thời cả năm “đôi cánh” nền tảng, bao gồm thể chế vượt trội; nguồn lực tài chính đa dạng, linh hoạt; hạ tầng chiến lược; nhân lực tinh hoa và liên kết vùng hiệu quả.
Những yếu tố này không tồn tại tách rời mà cấu thành một chỉnh thể tương hỗ, cùng vận hành nhằm tạo ra động lực tăng trưởng mới, tương xứng với vị thế của một siêu đô thị. Trong tổng thể đó, thể chế được xem là đôi cánh chủ đạo, bởi với vai trò như một hệ điều hành, thể chế chi phối toàn bộ quá trình phân bổ, huy động và giải phóng các nguồn lực còn lại.
Đặc biệt, khi quy mô kinh tế của TP.HCM vượt ngưỡng 120 tỉ USD, việc tiếp tục áp dụng một khung thể chế mang tính phổ quát sẽ khó tránh khỏi tình trạng độ trễ thể chế. Điều này làm giảm hiệu quả vận hành và kìm hãm tiềm năng tăng trưởng, nhất là khi TP.HCM đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Luật Đô thị đặc biệt sẽ giúp TP.HCM tháo gỡ căn cơ các điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực, hạ tầng... tạo nền tảng cho một giai đoạn bứt phá dài hạn cho TP.HCM và nền kinh tế quốc gia. Ảnh: THUẬN VĂN
Liên kết vùng cũng cần được nhìn nhận như một “đôi cánh” chiến lược, bởi TP.HCM không thể phát triển như một thực thể khép kín. Với vai trò là cực tăng trưởng của vùng động lực phía Nam, năng lực cạnh tranh của TP.HCM phụ thuộc lớn vào mức độ gắn kết với các không gian kinh tế xung quanh.
Khi liên kết vùng được thể chế hóa bằng các thiết chế điều phối hiệu quả, TP.HCM không chỉ mở rộng được không gian phát triển mà còn có thể củng cố vai trò trung tâm, dẫn dắt các dòng chảy kinh tế của toàn bộ khu vực phía Nam.
Xóa bỏ độ trễ thể chế bằng Luật Đô thị đặc biệt
. Thực tế, các cơ chế đặc thù đã giúp tháo gỡ nhanh nhiều đại dự án, tuy nhiên để kiến tạo một nền tảng phát triển dài hạn và ổn định thì chừng đó liệu đã đủ?
+ Tôi cho rằng các nghị quyết như 222, 260, 188… phản ánh rất rõ nhu cầu phát triển lớn và mang tính đặc thù của TP.HCM. Những cơ chế vượt trội này đã kịp thời giải quyết các nhu cầu thực tiễn mà hệ thống pháp luật hiện hành chưa bao quát hết, đặc biệt trong tháo gỡ vướng mắc cho các dự án quy mô lớn, lĩnh vực trọng điểm.
Việc nhiều đại dự án có thể được tiếp nhận đầu tư chỉ trong thời gian ngắn cho thấy hiệu quả rõ rệt của cách tiếp cận này trong rút ngắn quy trình và tạo “độ mở” cho phát triển.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận thẳng thắn rằng các cơ chế đặc thù hiện nay phần lớn vẫn mang tính phản ứng nhanh với thực tiễn, tức là phát sinh nhu cầu rồi mới xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách để xử lý.
Trong khi đó, quy trình lập pháp thường có độ trễ nhất định, khiến không ít cơ chế khi đi vào thực thi đã bỏ lỡ thời điểm vàng. Cách tiếp cận theo từng chính sách đơn lẻ cũng làm cho khung pháp lý trở nên phân mảnh, thiếu tính ổn định và khó tạo dựng niềm tin dài hạn cho nhà đầu tư.
19,1 tỉ USD
Là số vốn cam kết từ các nhà đầu tư và định chế tài chính mà Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TP.HCM (VIFC) đã thu hút được. Ngoài ra, hiện có bảy ngân hàng lên kế hoạch thành lập ngân hàng con 100% vốn sở hữu tại VIFC, gồm Vietcombank, HDBank, SHB, MBBank, TPBank, LPBank và Nam A Bank…
Chính vì vậy, việc xây dựng Luật Đô thị đặc biệt cho TP.HCM sẽ là bước chuyển lớn mang tính tổng thể. Nếu được xây dựng theo hướng tích hợp, trên cơ sở kế thừa và nâng cấp các cơ chế, chính sách hiện có, Luật Đô thị đặc biệt sẽ vừa là sự tiếp nối, vừa là một sự thay đổi lớn về chất trong tư duy xây dựng thể chế.
Khi đó, TP.HCM có thêm công cụ pháp lý mới và cả không gian phát triển hoàn toàn khác. Quyền tự chủ được mở rộng giúp rút ngắn thời gian ra quyết định; khung pháp lý ổn định, minh bạch và có khả năng dự báo sẽ tạo niềm tin cho các nhà đầu tư chiến lược, đồng thời cơ chế thử nghiệm thể chế (sandbox) mở đường cho các mô hình kinh tế mới.
Quan trọng hơn, nếu luật hóa được các cơ chế liên kết vùng có tính thực quyền thật sự, TP.HCM sẽ hình thành một không gian kinh tế thống nhất với các địa phương lân cận.
Luật Đô thị đặc biệt nếu được xây dựng đúng hướng và triển khai hiệu quả, sẽ giúp TP tháo gỡ căn cơ các điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực, hạ tầng và liên kết vùng, từ đó tạo nền tảng cho một giai đoạn bứt phá mang tính dài hạn cho TP.HCM nói riêng và toàn bộ nền kinh tế quốc gia nói chung.
Khơi thông dòng vốn ngàn tỉ
. Vậy thay vì các kênh huy động truyền thống như hiện nay, TP.HCM cần chiến lược nào để khơi thông nguồn vốn khổng lồ tương xứng với một siêu đô thị?
+ Từ góc độ chính sách, tôi cho rằng TP.HCM cần chuyển từ tư duy huy động vốn đơn thuần sang kiến tạo hệ sinh thái tài chính mang tính tích hợp và dài hạn.
TP.HCM cần khai thác hiệu quả nguồn lực đất đai thông qua các mô hình phát triển đô thị gắn với giao thông công cộng (TOD), hình thành nên một chu trình khép kín giữa đầu tư hạ tầng - gia tăng giá trị đất - tái đầu tư phát triển. Cùng với đó, đẩy mạnh phát triển các công cụ tài chính hiện đại như trái phiếu chính quyền địa phương, trái phiếu xanh, xây dựng các cơ chế tài chính bền vững để tiếp cận các dòng vốn quốc tế.
Đặc biệt, việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM sẽ có ý nghĩa then chốt. Trung tâm này không đơn thuần chỉ là nơi tập trung các định chế tài chính mà còn đóng vai trò như một nút trung chuyển của dòng vốn khu vực, cho phép TP.HCM chuyển dịch từ vị thế tiếp nhận vốn sang điều phối và phân bổ vốn.
Sự chuyển dịch này sẽ giúp TP thu hút được các dòng vốn quy mô lớn, ổn định, dẫn dắt dòng chảy vốn vào các lĩnh vực ưu tiên như hạ tầng chiến lược, công nghệ cao và đổi mới sáng tạo. Đây chính là nền tảng để TP.HCM nâng cao chất lượng tăng trưởng và từng bước định vị mình như một trung tâm tài chính có sức cạnh tranh trong khu vực.
TP.HCM đã và đang định hình đô thị đa cực với các trung tâm chuyên biệt về tài chính, công nghệ, logistics, đổi mới sáng tạo và kinh tế biển... Ảnh: THUẬN VĂN
Định hình TP.HCM thành siêu đô thị chuẩn mực quốc tế
Nếu hội tụ và đồng bộ hóa thành công “5 đôi cánh”, TP.HCM trong 5-10 năm tới sẽ có bước chuyển mang tính chất tái định vị chiến lược trong phạm vi quốc gia và cả trên bản đồ các siêu đô thị của khu vực.
Về không gian phát triển, TP.HCM sẽ định hình rõ nét mô hình đô thị đa cực với các trung tâm chức năng chuyên biệt như tài chính, công nghệ, logistics, đổi mới sáng tạo và kinh tế biển, được liên kết bằng hệ thống hạ tầng tích hợp, hiện đại và có tính kết nối vùng cao. Điều này sẽ giúp giảm áp lực cho khu vực lõi đô thị, chưa kể mở rộng đáng kể biên độ phát triển của toàn bộ không gian kinh tế phía Nam.
Về quy mô và chất lượng tăng trưởng, mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng hai con số là khả thi khi các nguồn lực được phân bổ hiệu quả và các điểm nghẽn thể chế được tháo gỡ. Khi đó, GRDP của TP.HCM có thể tiệm cận với mặt bằng các siêu đô thị trong khu vực, đồng thời cơ cấu kinh tế sẽ dịch chuyển mạnh sang các ngành có giá trị gia tăng cao như tài chính, công nghệ cao và kinh tế số. Quan trọng hơn, tăng trưởng không dừng ở tốc độ, mà sẽ chuyển sang chất lượng, với nền tảng là khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Ở tầm cao hơn, TP.HCM cũng sẽ vươn lên trở thành một cực tăng trưởng có ảnh hưởng trong khu vực, tham gia sâu vào các mạng lưới sản xuất, tài chính và chuỗi giá trị toàn cầu. Khi các cơ chế liên kết vùng được vận hành hiệu quả, TP sẽ không còn phát triển theo hướng đơn lẻ, mà giữ vai trò trung tâm điều phối, dẫn dắt toàn bộ không gian kinh tế phía Nam, qua đó nâng cao đáng kể năng lực cạnh tranh tổng thể.
Trong tương quan khu vực, TP.HCM có thể tiến gần hơn tới các chuẩn mực của Bangkok hay Jakarta về quy mô và năng lực thị trường, từng bước rút ngắn khoảng cách về thể chế, môi trường kinh doanh và chất lượng đô thị so với các trung tâm hàng đầu như Singapore.
Đây hoàn toàn không đơn thuần là sự gia tăng về quy mô hay thứ hạng, thực chất là sự chuyển đổi sâu sắc về chất trong mô hình phát triển, từ một đô thị tăng trưởng nhanh sang một siêu đô thị có năng lực cạnh tranh cao, vận hành theo chuẩn mực quốc tế và có khả năng định hình các dòng chảy kinh tế trong khu vực. TP.HCM sẽ phát triển ngang tầm các đô thị lớn trong khu vực; là điểm đến hấp dẫn toàn cầu, nơi thu hút các định chế tài chính và tập đoàn kinh tế quốc tế.
PGS-TS ĐỖ PHÚ TRẦN TÌNH
. Cụ thể với các dự án hạ tầng ngàn tỉ, làm thế nào để ngân sách nhà nước thực sự trở thành “vốn mồi” thu hút thành công dòng vốn tư nhân, thưa ông?
+ Vấn đề cốt lõi không nằm ở việc có đủ vốn hay không mà ở chỗ xây dựng cơ chế tài chính có đủ hấp dẫn để chuyển hóa các dự án hạ tầng thành cơ hội đầu tư cho khu vực tư nhân.
Trong bối cảnh ngân sách hữu hạn, vai trò của Nhà nước cần được tái định vị theo hướng vốn mồi, tức là dẫn dắt, chia sẻ rủi ro và kiến tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, thay vì trực tiếp gánh vác toàn bộ chi phí đầu tư.
Theo tôi, trước hết TP cần hoàn thiện và nâng cấp mô hình đối tác công tư (PPP) theo hướng ổn định và có cơ chế phân bổ rủi ro hợp lý giữa nhà nước và nhà đầu tư. Những dự án quy mô lớn, thời gian hoàn vốn dài, nếu không có cơ chế chia sẻ rủi ro về doanh thu, lãi suất hoặc biến động chính sách thì rất khó thu hút nhà đầu tư chiến lược.
Bên cạnh đó, mạnh dạn áp dụng các mô hình tài chính mới gắn với khai thác giá trị gia tăng từ hạ tầng, đặc biệt là cơ chế TOD. Khi hạ tầng giao thông được đầu tư, giá trị đất đai xung quanh gia tăng đáng kể, nếu có cơ chế phù hợp để thu hồi một phần giá trị này nhằm tái đầu tư sẽ tạo ra một vòng tuần hoàn tài chính bền vững, giảm phụ thuộc vào ngân sách nhà nước.
Việc xây dựng các “luồng xanh” về thủ tục cho các dự án chiến lược, kết hợp với ưu đãi có chọn lọc về thuế, tín dụng hoặc tiếp cận đất đai cũng sẽ góp phần gia tăng sức hấp dẫn đối với dòng vốn tư nhân.
Cuối cùng, tôi cho rằng cần phát huy vai trò của các doanh nghiệp nhà nước có năng lực như cầu nối giữa khu vực công và tư, tham gia vào giai đoạn đầu của dự án để giảm thiểu rủi ro ban đầu, sau đó từng bước chuyển giao hoặc hợp tác khai thác với khu vực tư nhân. Nếu được triển khai đồng bộ, những cơ chế này sẽ giúp khơi thông dòng vốn cho hạ tầng, tạo lập một thị trường đầu tư hạ tầng chuyên nghiệp, có sức cạnh tranh cao trong khu vực.
. Xin cảm ơn ông.
LÊ THOA thực hiện