Dãy Trường Sơn ở khu vực phía Nam tỉnh Quảng Trị vốn nổi tiếng với sự khắc nghiệt của gió Lào, nhưng chính sự giao thoa giữa khí hậu Tây Trường Sơn và gió mùa Đông Bắc đã tạo nên một bức tranh thiên nhiên kỳ thú. Đó là những cánh rừng đặc dụng có tính đa dạng sinh học cao và độc đáo.
Voi Mẹp thuộc vùng lõi của Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa - Ảnh: P.T.L
Theo ông Nguyễn Tân Hiếu, Phó Giám đốc BQL Rừng đặc dụng Nam Quảng Trị, Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa nằm hoàn toàn về phía Tây dãy Trường Sơn nên có tính đa dạng sinh học cao. Các công trình nghiên cứu đã ghi nhận có hơn 1.327 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 158 họ, trong đó có 195 loài quý, hiếm, ưu tiên bảo vệ như: Đỉnh tùng, Hoàng đàn giả, Bảy lá một hoa, Lan hài đài cuộn…
Về động vật có xương sống, đã ghi nhận 432 loài, trong đó: Khu hệ thú có 110 loài thuộc 30 họ; khu hệ chim có 208 loài thuộc 49 họ; khu hệ bò sát có 44 loài thuộc 12 họ; khu hệ ếch nhái có 37 loài thuộc 6 họ; khu hệ cá có 33 loài thuộc 17 họ. Khu hệ côn trùng có 503 loài thuộc 109 họ. Có 97 loài nguy cấp, quý, hiếm như: Thỏ vằn, vượn Siki, voọc Hà Tĩnh, voọc chà vá chân nâu, cá chình hoa, rùa hộp trán vàng miền Trung…
Nai ở ở Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông - Ảnh: P.T.L
Trong khi đó, Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông cũng sở hữu con số ấn tượng với 1.577 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 162 họ, trong đó có 289 loài quý, hiếm, ưu tiên bảo vệ được ghi nhận. Về động vật có xương sống, đã xác định được 419 loài, trong đó: Khu hệ thú có 97 loài thuộc 28 họ; khu hệ chim có 203 loài thuộc 43 họ; khu hệ bò sát có 32 loài thuộc 13 họ; khu hệ ếch nhái có 17 loài thuộc 5 họ; khu hệ cá có 70 loài thuộc 17 họ; khu hệ côn trùng có 68 loài thuộc 4 họ. Có 91 loài động vật nguy cấp, quý, hiếm như: Vượn má vàng Trung bộ, thỏ vằn, cầy vằn Bắc, chà vá chân nâu…
Khi dân bản trở thành "lá chắn xanh" của đại ngàn
Trong quá khứ, rừng từng chịu nhiều áp lực bởi cuộc sống nghèo khó, lạc hậu của đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là khi giao thông bị chia cắt, việc canh tác nương rẫy và săn bắn tự cung tự cấp là phương cách chính để tồn tại.
Thế nhưng ngày nay, diện mạo vùng đệm đã thay đổi căn bản. Nhờ sự đầu tư của Nhà nước về hạ tầng và các chương trình hỗ trợ sinh kế, nhận thức của đồng bào Vân Kiều, Pa Kô về rừng đã chuyển từ "khai thác" sang "gìn giữ".
Sơn dương ở Khu Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hóa - Ảnh: P.T.L
Với anh Hồ Văn Đa, một người con Vân Kiều ở xã Hướng Phùng, công việc tuần tra rừng từ lâu đã trở thành một phần của cuộc sống. Anh chia sẻ: "Từ xa xưa, rừng đã là nhà của chúng tôi. Vì thế chúng tôi bảo vệ ngôi nhà của mình thì chẳng có gì phải e ngại gian khổ". Còn anh Hồ Văn Núi ở xã Đakrông lại chia sẻ một góc nhìn thực tế hơn: "Cuộc sống của chúng tôi ngày càng đổi thay chính là nhờ cây lúa nước.
Chúng tôi bảo vệ rừng chính là bảo vệ nguồn nước để phục vụ sản xuất và sinh hoạt hằng ngày của dân bản". Mối quan hệ hữu cơ giữa rừng và con người đã được cụ thể hóa bằng các mô hình quản lý rừng cộng đồng. Đồng bào ở khắp các bản làng chính là "lá chắn xanh" thường xuyên phối hợp với lực lượng kiểm lâm, lực lượng bảo vệ rừng chuyên trách để tuần tra, ngăn chặn săn bắt động vật, khai thác lâm sản trái phép và phòng, chống cháy rừng. Chính sự am hiểu về địa hình của đồng bào đã giúp cho công tác bảo vệ rừng hiệu quả, để nhiều cánh rừng được phục hồi và tái sinh mạnh mẽ.
Sinh kế bền vững: "Điểm tựa" cho công tác bảo tồn
Một nguyên tắc quan trọng là không thể bảo vệ rừng thành công nếu cuộc sống người dân ở vùng đệm vẫn còn nghèo khó. Thấu hiểu điều này, trong những năm qua, BQL Rừng đặc dụng Nam Quảng Trị đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ sinh kế thiết thực, trực tiếp tiếp sức cho các cộng đồng vùng đệm. Trong năm 2024, đơn vị đã đầu tư gần 1,74 tỉ đồng cho 35 cộng đồng; năm 2025 con số này tăng lên 1,95 tỉ đồng cho 39 cộng đồng. Những khoản kinh phí này đã giúp người dân sống gần rừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, đồng thời góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi.
Thôn Trại Cá thuộc xã Đakrông có địa bàn rộng với 203 hộ gia đình. Tuy đã có nhà văn hóa cộng đồng, nhưng mỗi khi họp hành thì thường gặp khó khăn do thiếu bàn ghế và những vật dụng cần thiết. Song, chính nhờ sự quan tâm, hỗ trợ của BQL Rừng đặc dụng Nam Quảng Trị nên giờ đây mỗi khi tập trung đông người đều thuận tiện hơn.
Anh Hồ Văn Luận, Trưởng thôn Trại Cá phấn khởi chia sẻ thêm: “Địa bàn dân cư của chúng tôi sống gần sông Đakrông, năm nào vào mùa mưa nhiều hộ dân cũng phải di dời vì ngập lũ. Vì vậy, nhà văn hóa cộng đồng được hỗ trợ thêm cơ sở vật chất còn là điểm đến an toàn cho mọi người”.
Mèo rừng ở Khu Khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông - Ảnh: P.T.L
Gia đình anh Hồ Văn A Riên ở xã Hướng Phùng là một trong số 14 hộ được nhận bò giống năm 2025. Anh Luận xúc động tâm sự: "Đây là tài sản lớn nhất của gia đình tôi từ trước đến nay. Tôi sẽ chăm sóc thật tốt để bò sinh sản, giúp gia đình sớm thoát nghèo". Còn với ông Hồ Xuân Doi cùng ở xã Hướng Phùng thì bò giống được trao tặng còn là món quà ghi nhận và động viên người dân tích cực giữ rừng.
Theo ông Hồ Xuân Chiến, Phó Giám đốc BQL Rừng đặc dụng Nam Quảng Trị: “Mỗi khi cộng đồng được hưởng lợi từ các chính sách dịch vụ môi trường rừng, nhận khoán bảo vệ rừng và được hỗ trợ sinh kế, họ sẽ thấy rõ quyền lợi của mình gắn liền với sự sống còn của rừng. Đây chính là chìa khóa để giúp chủ rừng giải quyết triệt để tình trạng xâm hại tài nguyên rừng”.
Giữ rừng ở khu vực miền núi phía Nam Quảng Trị giờ đây không chỉ là bảo tồn những loài thực vật, động vật quý hiếm trong Sách Đỏ. Đó còn là bảo vệ nguồn sống, hạn chế thiên tai và bảo vệ bản sắc văn hóa đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Kô trên dải Trường Sơn.
Phan Tân Lâm