Khoảng trống 'quốc tế' ở trung tâm tài chính quốc tế

Khoảng trống 'quốc tế' ở trung tâm tài chính quốc tế
5 giờ trướcBài gốc
Bên bờ sông Sài Gòn, một “siêu cấu trúc” tài chính đang dần thành hình. Nhưng phía sau những tòa tháp kính chọc trời, các gói ưu đãi thuế chưa từng có hay tham vọng dựng nên một trung tâm tài chính tầm khu vực, điều Việt Nam thực sự theo đuổi không chỉ là một biểu tượng hào nhoáng của sự thịnh vượng. Đó là cuộc đua giành lấy dòng vốn toàn cầu, thứ nhiên liệu sống còn cho tham vọng tăng trưởng của cả nền kinh tế trong nhiều thập niên tới.
Khi Việt Nam bước vào cuộc đua tăng trưởng hai con số với khát vọng vươn lên nhóm quốc gia thu nhập cao, bài toán lớn nhất không còn nằm ở ý tưởng phát triển, mà nằm ở năng lực huy động tiền cho phát triển.
Bởi lẽ, theo tính toán từ nay đến năm 2030, nền kinh tế cần tới khoảng 280 tỷ USD để nuôi các đại dự án hạ tầng, công nghiệp, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đó là một “cơn khát” vốn khổng lồ, vượt xa sức chịu đựng của hệ thống ngân hàng vốn đã oằn mình gánh phần lớn dòng tín dụng cho nền kinh tế suốt nhiều năm qua.
Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện của Trung tâm Tài chính quốc tế TP.HCM (VIFC-HCMC) không đơn thuần là một dự án mang tính biểu tượng, mà được kỳ vọng trở thành “van dẫn vốn” chiến lược, giải tỏa “cơn khát” hàng trăm tỷ USD cho nền kinh tế, tái cấu trúc thị trường tài chính và thúc đẩy cuộc cải cách thể chế sâu rộng nhất của Việt Nam trong nhiều thập niên tới.
Những hình hài của Trung tâm Tài chính quốc tế TP.HCM đang dần thành hình. Ảnh: Hoàng Anh
Khi nền kinh tế vẫn “ăn đong” bằng vốn ngân hàng
Tại chương trình Cà phê Doanh nhân HUBA với chủ đề “Trung tâm tài chính quốc tế TP.HCM - Cơ hội nào cho doanh nghiệp?” diễn ra mới đây, câu chuyện nóng nhất không phải là những tòa tháp tương lai hay ưu đãi thuế, mà là áp lực vốn khổng lồ mà nền kinh tế Việt Nam sắp phải đối mặt.
TS Cấn Văn Lực, chuyên gia kinh tế trưởng BIDV, đưa ra con số gây chú ý: Từ nay đến năm 2030, Việt Nam cần khoảng 260 - 280 tỷ USD để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Nói cách khác, bình quân mỗi năm, nền kinh tế cần hấp thụ thêm 70 - 80 tỷ USD để nuôi các đại dự án hạ tầng, công nghiệp, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh.
"Đây là lượng vốn khổng lồ ngay cả với nhiều nền kinh tế phát triển, trong khi cấu trúc dẫn vốn của Việt Nam vẫn bộc lộ sự mất cân đối kéo dài suốt nhiều năm", ông Lực nói.
Dẫn số liệu của Viện Nghiên cứu kinh tế BIDV trong quý I/2026, tín dụng ngân hàng vẫn chiếm tới 57,3% tổng lượng vốn cung ứng cho nền kinh tế. Trong khi đó, vốn FDI đóng góp 14,8%, đầu tư công khoảng 13,7%, còn thị trường trái phiếu doanh nghiệp chỉ đạt 3,1%. Đáng chú ý, thị trường cổ phiếu gần như không tạo thêm nguồn vốn mới đáng kể trong quý đầu năm. Điều đó đồng nghĩa nền kinh tế Việt Nam vẫn đang phụ thuộc chủ yếu vào “bầu sữa” tín dụng ngân hàng.
Theo chuyên gia này, một cấu trúc như vậy có thể phù hợp với giai đoạn tăng trưởng quy mô nhỏ trước đây, nhưng đang trở nên quá tải khi Việt Nam bước vào thời kỳ cần lượng vốn trung và dài hạn cực lớn.
Đồng quan điểm, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch cơ quan điều hành VIFC-HCMC, nhìn nhận thẳng thắn rằng tỷ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện đã ở mức rất cao và liên tục bị các tổ chức quốc tế cảnh báo về độ an toàn. Nếu tiếp tục để hệ thống ngân hàng gánh vai trò cấp vốn dài hạn cho toàn bộ nền kinh tế, rủi ro hệ thống sẽ ngày càng lớn.
Áp lực ấy đặc biệt rõ nét tại TP.HCM, nơi đang theo đuổi hàng loạt siêu dự án hạ tầng. Chẳng hạn, chỉ riêng kế hoạch phát triển tám tuyến metro đã cần hơn 30 tỷ USD. Chưa kể các dự án cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ, hệ thống logistics, chống ngập, cao tốc liên vùng hay hạ tầng số.
"Những đại công trình này vượt quá sức chịu đựng của nguồn vốn nội địa truyền thống", ông nói và nhấn mạnh, việc hình thành một trung tâm tài chính quốc tế không còn là lựa chọn mang tính biểu tượng, mà trở thành yêu cầu bắt buộc nếu Việt Nam muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong thập niên tới.
Ý nghĩa lớn nhất của trung tâm tài chính không nằm ở các tòa nhà hay ưu đãi thuế, mà ở việc tạo ra áp lực cải cách thể chế đủ mạnh để kéo toàn bộ hệ thống pháp lý, quản trị và thị trường vốn của Việt Nam tiến gần hơn tới chuẩn toàn cầu.
TS Cấn Văn Lực
Chuyên gia kinh tế trưởng BIDV
Phó chủ tịch cơ quan điều hành VIFC-HCMC cũng cho hay, khác với nhiều đề án từng dừng lại ở ý tưởng, VIFC-HCMC đang bước vào giai đoạn hiện thực hóa với tốc độ rất nhanh. Trung tâm được quy hoạch trên diện tích khoảng 989ha, trải rộng từ khu vực quận 1 (cũ) đến toàn bộ bán đảo Thủ Thiêm. Điểm nhấn mang tính biểu tượng của VIFC-HCMC là AFC Tower cao 99 tầng, dự kiến khởi công ngay trong năm nay.
Nhưng, theo ông Huân, nguyên nhân khiến giới tài chính quốc tế chú ý hơn cả không nằm ở chiều cao của tòa tháp, mà ở gói ưu đãi được xem là táo bạo chưa từng có.
Cụ thể, theo Nghị quyết 222/2025/QH15 cùng hàng loạt nghị định hướng dẫn, các định chế tài chính hoạt động tại VIFC-HCMC có thể được hưởng mức thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân 0% đến năm 2030. Sau thời điểm đó, thuế suất doanh nghiệp cũng chỉ duy trì ở mức 10%.
Song song là chính sách thị thực đặc biệt với thời hạn lưu trú lên tới 10 năm dành cho chuyên gia quốc tế, cùng mục tiêu hình thành 100.000 - 200.000 việc làm chất lượng cao trong lĩnh vực tài chính và công nghệ tài chính.
"Về bản chất, VIFC-HCMC đang được thiết kế như một 'sandbox thể chế", nơi Việt Nam thử nghiệm các chuẩn mực quản trị và vận hành tiệm cận quốc tế nhanh hơn bất kỳ khu vực nào khác trong nước", ông Huân nhấn mạnh.
"Nội binh" đã nhập cuộc, "ngoại binh" vẫn đứng ngoài
Điều đáng chú ý, theo ông Huân, là ngay khi VIFC-HCMC còn chưa vận hành đầy đủ, các ngân hàng nội địa đã nhanh chóng “xếp hàng” tham gia.
Thực tế, trong mùa đại hội cổ đông năm nay, Vietcombank, HDBank, SHB, MB, TPBank, LPBank và Nam A Bank đều đã thông qua chủ trương thành lập ngân hàng con tại VIFC-HCMC. Trong khi VietinBank cũng cho biết đang nghiên cứu kế hoạch hiện diện tại đây. Rõ ràng, dòng vốn nội địa không muốn bỏ lỡ sân chơi mới này.
Tuy nhiên, nghịch lý nằm ở chỗ các định chế quốc tế, đối tượng quan trọng nhất để tạo nên tính “quốc tế” cho VIFC-HCMC, lại đang gặp rào cản lớn.
Theo ông Huân, trong các chuyến xúc tiến đầu tư tại Mỹ, Nhật Bản và nhiều trung tâm tài chính lớn, hàng loạt tên tuổi như JPMorgan Chase, Bank of America, Bank of China hay MUFG đều bày tỏ sự quan tâm mạnh mẽ tới VIFC-HCMC. Nhưng khi đối chiếu với quy định cấp phép hiện hành, nhiều tổ chức buộc phải dừng bước.
Giải thích nguyên nhân, chuyên gia này cho hay, theo Nghị định 329/2025/NĐ-CP, để thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài hoặc chi nhánh ngân hàng thành viên tại VIFC-HCMC, tổ chức mẹ phải đạt mức tín nhiệm AA- trở lên theo Standard & Poor’s hoặc Fitch Ratings, hoặc Aa3 theo Moody’s. Nhưng vấn đề là ngay cả ở Mỹ, rất ít ngân hàng đạt chuẩn này.
“Phía các ngân hàng Mỹ nói thẳng rằng hiện nay chỉ JPMorgan Chase đạt mức tín nhiệm AA, còn nhiều định chế tài chính lớn khác cũng không đạt”, ông Huân chia sẻ.
PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó chủ tịch cơ quan điều hành VIFC-HCMC. Ảnh: BTC
Ông Lực phân tích thêm rằng, theo thông lệ quốc tế, xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp thường rất khó vượt quá “trần tín nhiệm quốc gia”. Tại Nhật Bản, nhiều ngân hàng lớn như MUFG cũng chỉ dao động ở mức A hoặc A+. Điều đó khiến yêu cầu AA trở thành rào cản kỹ thuật quá cao trong giai đoạn đầu.
"Nếu không sớm điều chỉnh, một trung tâm tài chính mang danh 'quốc tế' nhưng chủ yếu vẫn là các ngân hàng nội địa tham gia với nhau sẽ khó đạt được chiều sâu thanh khoản và sức hút vốn ngoại như kỳ vọng", ông Lực nhấn mạnh.
Hiện tại, cơ quan điều hành VIFC-HCMC đã kiến nghị Chính phủ xem xét hạ chuẩn xuống mức A hoặc A+ để mở rộng cánh cửa đón các định chế tài chính toàn cầu.
Doanh nghiệp Việt sẽ lấy tiền từ đâu?
Với cộng đồng doanh nghiệp, câu hỏi quan trọng nhất không phải là trung tâm tài chính đẹp đến đâu, mà là tiền sẽ chảy vào doanh nghiệp theo cách nào.
Theo ông Huân, có ba “đường ống” lớn đang được thiết kế để kết nối vốn quốc tế với doanh nghiệp Việt Nam.
Thứ nhất, sàn chứng khoán quốc tế. Một sàn giao dịch độc lập với hệ thống hiện tại đang được lên kế hoạch xây dựng với định hướng hợp tác công nghệ cùng Nasdaq và London Stock Exchange. Nếu thành hiện thực, đây sẽ là bước ngoặt lớn của thị trường vốn Việt Nam. Bởi lẽ, từ sàn này, các tập đoàn lớn có thể huy động vốn trực tiếp từ nhà đầu tư quốc tế. Doanh nghiệp FDI hay doanh nghiệp Đông Nam Á cũng có thể niêm yết tại TP.HCM. Đồng thời, nhà đầu tư Việt Nam có cơ hội giao dịch các cổ phiếu quốc tế thông qua cơ chế niêm yết chéo và niêm yết song song.
Điều này giúp thị trường vốn Việt Nam lần đầu tiên thực sự kết nối với dòng chảy tài chính toàn cầu thay vì chỉ hoạt động trong phạm vi nội địa.
Thứ hai, trái phiếu xanh. Trong bối cảnh thế giới bước vào thời kỳ chuyển đổi xanh, các quỹ đầu tư ESG toàn cầu đang nắm giữ lượng vốn khổng lồ nhưng yêu cầu tiêu chuẩn minh bạch và môi trường rất cao. VIFC-HCMC được kỳ vọng trở thành cửa ngõ giúp doanh nghiệp Việt phát hành trái phiếu xanh quốc tế để huy động vốn cho các dự án năng lượng tái tạo, công nghệ sạch hay giảm phát thải carbon. Đây có thể là “mỏ vốn” đặc biệt quan trọng trong thập niên tới khi xu hướng tài chính xanh ngày càng chi phối dòng tiền toàn cầu.
Thứ ba, vốn cộng đồng cho khởi nghiệp và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Khác với quan niệm trung tâm tài chính chỉ dành cho các “đại gia”, VIFC-HCMC còn lên kế hoạch xây dựng sàn gọi vốn cộng đồng dành cho startup và doanh nghiệp nhỏ. Theo tính toán của VIFC-HCMC, mỗi doanh nghiệp có thể huy động khoảng 700.000 USD/năm, con số không quá lớn với các tập đoàn, nhưng có ý nghĩa sống còn với startup công nghệ hoặc SME đang thiếu tài sản thế chấp.
Nếu vận hành hiệu quả, đây sẽ là lần đầu tiên Việt Nam có một kênh gọi vốn chính thống, minh bạch cho cộng đồng doanh nghiệp nhỏ thay vì phụ thuộc gần như hoàn toàn vào tín dụng ngân hàng.
Dù vậy, cơ hội lớn luôn đi kèm rủi ro lớn. Ông Huân cho rằng ưu điểm lớn nhất của VIFC-HCMC là mở ra khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế có chi phí rẻ và kỳ hạn dài. Khi dòng vốn ngoại đổ vào mạnh hơn, áp lực cạnh tranh cũng có thể kéo mặt bằng lãi suất trong nước giảm theo. Nhưng đổi lại, doanh nghiệp Việt sẽ phải bước vào một “sân chơi” hoàn toàn khác.
Các khoản huy động quốc tế chủ yếu bằng USD, EUR hoặc JPY. Điều đó đồng nghĩa doanh nghiệp sẽ đối mặt trực diện với rủi ro tỷ giá.
"Ngay cả khi VIFC-HCMC cung cấp các công cụ phái sinh phòng ngừa rủi ro như hedging, việc sử dụng hiệu quả vẫn đòi hỏi doanh nghiệp phải sở hữu đội ngũ tài chính chuyên nghiệp và hệ thống quản trị hiện đại", ông nói.
Ngoài tỷ giá, yêu cầu minh bạch tài chính cũng sẽ khắt khe hơn rất nhiều. Các quỹ đầu tư quốc tế không chỉ nhìn vào lợi nhuận, mà còn soi sâu vào chuẩn quản trị, kiểm toán, ESG, cấu trúc cổ đông và khả năng tuân thủ pháp luật. Điều đó đồng nghĩa nhiều doanh nghiệp Việt sẽ phải thay đổi tận gốc cách vận hành nếu muốn bước chân vào dòng vốn toàn cầu.
Ở góc nhìn doanh nghiệp thực tế, ông Trần Việt Anh, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty CP Xuất nhập khẩu Nam Thái Sơn, cho rằng các doanh nghiệp nhỏ và vừa không nên tự ti trước VIFC-HCMC.
Theo ông, trung tâm tài chính quốc tế không chỉ phục vụ các “đại bàng”, mà còn tạo ra hệ sinh thái kéo theo hàng trăm doanh nghiệp vệ tinh.
“Một tập đoàn lớn đặt trung tâm tài chính tại VIFC sẽ kéo theo các doanh nghiệp thép, logistics, điện, cao su, dịch vụ… cùng phát triển. Các doanh nghiệp nhỏ có thể đi theo chuỗi cung ứng đó để tiếp cận vốn và mở rộng quy mô”, ông Việt Anh nói.
Nói cách khác, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể không trực tiếp niêm yết trên sàn quốc tế, nhưng vẫn hưởng lợi gián tiếp nhờ tham gia vào hệ sinh thái của các doanh nghiệp đầu tàu. Đây có thể là cơ hội để nhiều doanh nghiệp tư nhân thoát khỏi tình trạng phụ thuộc hoàn toàn vào vốn vay thế chấp ngân hàng hoặc các nguồn vốn phi chính thức đầy rủi ro.
Có thể nói, cơ hội đang mở ra ngay trước mắt. Vấn đề còn lại là liệu doanh nghiệp Việt có đủ nhanh để thay đổi, đủ minh bạch để bước ra sân chơi toàn cầu và đủ bản lĩnh để nắm lấy dòng vốn của kỷ nguyên mới hay không?.
Quốc Hải
Nguồn Nhà Quản Trị : https://theleader.vn/khoang-trong-quoc-te-o-trung-tam-tai-chinh-quoc-te-d45974.html