Kỳ điều hành giữa tháng 3 ghi nhận mức tăng đáng kể của giá xăng, đủ để tạo sức ép lên một số khâu trung gian của nền kinh tế. Tuy nhiên, trong cơ cấu giá của đa số hàng hóa, xăng dầu chỉ là một thành phần, bên cạnh nguyên liệu đầu vào, nhân công, mặt bằng, điện, nước, chi phí quản lý và cả yếu tố cung - cầu thị trường.
Một tô phở, một ly cà phê hay bó rau ngoài chợ không vận động theo một đường thẳng tuyệt đối với giá xăng. Chuyện giá xăng vừa nhổm tăng, giá bán lẻ lập tức “nhích” theo không đơn giản là hiệu ứng chi phí, mà nhiều khi là phản ứng tâm lý, thậm chí có dấu hiệu trục lợi. Điều người dân lo nhất lúc này không chỉ là giá tăng ở cây xăng, mà còn lan nhanh vào sạp chợ, hàng quán, xe cộ, dịch vụ giao hàng và từng bữa cơm gia đình. Một cọng hành tăng vài ngàn đồng; một tô phở thêm 5.000-7.000 đồng; một cuốc xe tăng vài chục ngàn đồng...
Mỗi khoản tăng riêng lẻ có thể chưa lớn, nhưng nhiều khoản nhỏ cộng lại sẽ trở thành gánh nặng đáng kể đối với người làm công ăn lương, công nhân, người hưu trí, người buôn bán nhỏ và gia đình thu nhập thấp. Đáng lo hơn, kiểu tăng giá “ăn theo” thường mang một đặc điểm quen thuộc: đầu vào tăng thì giá bán tăng rất nhanh, nhưng khi đầu vào giảm thì giá lại giảm rất chậm, thậm chí đứng yên. Sự bất cân xứng này không chỉ làm méo mó tín hiệu thị trường mà còn bào mòn niềm tin của người tiêu dùng, tạo ra vòng xoáy tăng giá dây chuyền, nơi giá cả không còn phản ánh đúng chi phí thực.
Áp lực giá cả hiện nay vốn đã không nhỏ. Theo số liệu mới nhất, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2-2026 tăng 1,14% so với tháng trước; bình quân 2 tháng đầu năm tăng 2,94% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu đến từ giá thực phẩm, ăn uống ngoài gia đình và dịch vụ giao thông tăng trong dịp Tết Nguyên đán. Điều đó cho thấy đời sống dân sinh đã chịu sức ép từ trước; nếu tiếp tục để một đợt tăng giá nhiên liệu bị khuếch đại thành làn sóng tăng giá vô lối, gánh nặng sẽ càng dồn lên vai người dân.
Vấn đề đặt ra lúc này là cơ quan quản lý giữ vững kỷ cương thị trường; siết chặt việc giám sát kê khai, niêm yết giá; yêu cầu minh bạch cấu phần chi phí, nhất là trong lĩnh vực vận tải, phân phối. Mọi điều chỉnh giá phải có giải trình rõ ràng: tăng vì yếu tố nào, mức độ bao nhiêu, có hợp lý hay không. Không thể chỉ viện dẫn một lý do quen thuộc: do giá xăng tăng. Việc kiểm soát giá cũng không thể dừng ở một khâu riêng lẻ mà nên được xem xét toàn chuỗi từ sản xuất, trung gian đến bán lẻ.
Thực tế, nhiều khi giá tại nơi sản xuất không biến động đáng kể, nhưng qua mỗi tầng nấc lưu thông hàng hóa lại bị đội chi phí và lợi nhuận. Kết quả, lắm lúc người tiêu dùng mua đắt hơn, nhà sản xuất không được hưởng lợi tương xứng, khi những khâu trung gian chính là “nơi khuếch đại lạm phát”... Ở góc độ doanh nghiệp, việc điều chỉnh giá nên dựa trên chi phí thực, kèm nỗ lực tối ưu vận hành để giảm áp lực đầu vào. Không thể coi biến động nhiên liệu là cái cớ cho việc tăng giá đại trà. Trong bối cảnh sức mua hạn chế, những quyết định tăng giá thiếu cân nhắc có thể phản tác dụng, làm thu hẹp thị phần.
Giữ được kỷ cương giá cả lúc này không chỉ là câu chuyện kinh tế, mà còn là trách nhiệm với đời sống dân sinh. Các cơ quan chức năng có thể chấp nhận những chi phí tăng có chọn lọc, nhưng nên kiên quyết ngăn chặn mọi biểu hiện “mượn gió bẻ măng” để bảo vệ niềm tin thị trường...
PGS-TS NGÔ TRÍ LONG