Kiến nghị giảm xuất khẩu dầu thô, ưu tiên cho nhà máy lọc dầu Dung Quất

Kiến nghị giảm xuất khẩu dầu thô, ưu tiên cho nhà máy lọc dầu Dung Quất
3 giờ trướcBài gốc
Việt Nam vẫn phải nhập khẩu dầu thô từ nước ngoài, căng thẳng ở Trung Đông khiến nguồn nhập dầu bị ảnh hưởng
Theo ông Nguyễn Việt Thắng – Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Lọc hóa dầu Bình Sơn (BSR) - đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam), hiện Nhà máy Lọc dầu Dung Quất đang sử dụng khoảng 30-35% dầu thô nguyên liệu nhập khẩu, chủ yếu từ Tây Phi, khu vực Địa Trung Hải, Mỹ và một phần từ Trung Đông.
Vì vậy, nếu xung đột tại Trung Đông kéo dài, giá dầu, phụ phí, cước vận chuyển và phí bảo hiểm có thể tiếp tục tăng mạnh, làm gia tăng đáng kể chi phí đầu vào và rủi ro tài chính.
Ngay từ đầu năm 2026, nhằm chuẩn bị cho mục tiêu tăng trưởng hai con số và chủ động ứng phó với các tình huống bất thường của thế giới cũng như tác động của biến đổi khí hậu, BSR đã chủ động nâng mức tồn kho, điều hành sản xuất linh hoạt theo nhu cầu thị trường và đa dạng hóa nguồn nguyên liệu.
Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công Thương và Petrovietnam, BSR đã ký thỏa thuận cung cấp dầu thô với hai tập đoàn năng lượng lớn của Mỹ là ExxonMobil và Chevron nhằm bảo đảm nguồn cung ổn định và góp phần giảm chênh lệch cán cân thương mại Việt Nam - Mỹ.
Trong giai đoạn tháng 3-5/2026, BSR đã ký hợp đồng mua khoảng 3 triệu thùng dầu thô nhập khẩu (Qua Iboe, Bu Attifel, Medanito và Palanca Blend). Mặc dù các nguồn này không thuộc khu vực xung đột trực tiếp, căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông vẫn có thể tác động gián tiếp đến tiến độ giao hàng, chi phí vận tải, bảo hiểm và an toàn hàng hải.
Đáng chú ý, với nhu cầu mua bổ sung theo hợp đồng chuyến trong tháng 5-2026 ước khoảng 900 nghìn đến 1 triệu thùng và tháng 6-2026 khoảng 1 đến 1,3 triệu thùng, việc vận hành nhà máy ở mức 118-120% công suất sẽ chịu áp lực lớn về giá cả và khả năng tiếp cận nguồn hàng.
Trong tháng 2 vừa qua, BSR đã triển khai mua cấu tử xăng có trị số octane cao để phối trộn. Tuy nhiên, do nguồn cung khan hiếm và thị trường biến động mạnh, BSR chưa thể mua đủ khối lượng theo kế hoạch, ảnh hưởng đến phương án gia tăng chế biến trong tháng 3-2026.
Để đạt công suất quy đổi tối thiểu 120% (bao gồm dầu thô và nguyên liệu trung gian), BSR đang nỗ lực tìm kiếm và mua bổ sung nguồn nguyên liệu trong tháng 3-4/2026, làm gia tăng áp lực mua hàng trong bối cảnh thị trường bất lợi.
Bên cạnh yếu tố giá, đại diện BSR cũng nêu một rủi ro khác là khả năng gián đoạn chuỗi cung ứng do một số quốc gia có thể hạn chế xuất khẩu để ưu tiên nhu cầu nội địa, trong bối cảnh thị trường vận tải biển và bảo hiểm biến động khó lường, thời gian giao hàng kéo dài. Những yếu tố này có thể ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch vận hành nhà máy, đặc biệt trong giai đoạn cuối quý II và đầu quý III-2026.
Thực tế cho thấy, khi xảy ra bất ổn địa chính trị và xung đột tại Trung Đông, nhu cầu đối với dầu thô nội địa sẽ gia tăng, dẫn đến cạnh tranh gay gắt trong các đợt đấu thầu quốc tế mua dầu thô Việt Nam.
Để giảm thiểu nguy cơ thiếu hụt dầu thô nguyên liệu khiến Nhà máy Lọc dầu Dung Quất phải điều chỉnh giảm công suất hoặc không hoàn thành kế hoạch được giao, BSR đã kiến nghị các cấp có thẩm quyền và Petrovietnam xem xét cơ chế ưu tiên cho BSR được mua tối đa dầu thô và condensate khai thác trong nước.
Đồng thời, cơ quan quản lý cần áp dụng cơ chế tạm thời ưu tiên dầu thô nội địa cho Nhà máy Lọc dầu Dung Quất để chế biến xăng dầu thành phẩm, cũng như hạn chế xuất khẩu dầu thô nội địa trong giai đoạn cao điểm rủi ro (đến hết quý III-2026 hoặc đến khi thị trường quốc tế ổn định), nhằm bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.
Đặc biệt, để bảo đảm đủ dầu phục vụ vận hành trong tháng 5-6/2026, BSR đề nghị được phép mua trực tiếp dầu thô từ các lô Ruby, Bunga Orkid (BO) và Chim Sáo giao trong giai đoạn này theo mức giá chào thầu cao nhất của kỳ gần nhất, như một giải pháp tình thế nhằm bảo đảm nguồn cung kịp thời trong bối cảnh thị trường biến động mạnh.
Theo số liệu từ Cục Hải quan (Bộ Tài chính), năm 2025 Việt Nam nhập khẩu 9,9 triệu tấn xăng dầu các loại, với kim ngạch khoảng 6,8 tỷ USD. Trong cơ cấu này, diesel chiếm tỷ trọng lớn nhất với khoảng 3,3 tỷ USD; xăng khoảng 1,6 tỷ USD, nhiên liệu bay hơn 1,5 tỷ USD, và dầu mazut.
Cùng với xăng dầu thành phẩm, LPG đạt khoảng 3,6 triệu tấn, trị giá 2,1 tỷ USD trong cả năm. Ở nhóm dầu thô, lượng nhập khẩu lên tới 14,1 triệu tấn, với kim ngạch khoảng 7,7 tỷ USD.
Như vậy, riêng ba nhóm năng lượng chủ chốt này đã tiêu tốn xấp xỉ 17 tỷ USD trong năm 2025, cho thấy mức độ phụ thuộc đáng kể của Việt Nam vào nguồn cung bên ngoài, dù trong nước vẫn có sản xuất và chế biến.
Hiện nay, hai nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn (Thanh Hóa) và Bình Sơn (Dung Quất, Quảng Ngãi) đóng vai trò cốt lõi, cung ứng khoảng 72-80% nhu cầu xăng dầu trong nước, đóng vai trò “tấm đệm” quan trọng trước cú sốc bên ngoài. Tuy nhiên, để duy trì công suất, cả hai nhà máy đều phải nhập khẩu một lượng dầu thô đáng kể.
Riêng năm ngoái, Việt Nam đã nhập khẩu hơn 10 triệu tấn dầu thô từ Kuwait, với kim ngạch hơn 6 tỷ USD, chiếm tỷ trọng áp đảo trong tổng lượng dầu thô nhập khẩu. Do đó, khi khu vực Vịnh Ba Tư hoặc tuyến vận tải qua eo biển Hormuz xảy ra gián đoạn, tác động đối với nguồn dầu thô của Việt Nam sẽ trực diện và đáng kể.
H.L
Nguồn ANTĐ : https://anninhthudo.vn/kien-nghi-giam-xuat-khau-dau-tho-uu-tien-cho-nha-may-loc-dau-dung-quat-post640047.antd