VCCI kiến nghị loại bỏ sữa khỏi danh mục hàng hóa có mức độ rủi ro cao.
Trả lời Công văn số 2542/BCT-ĐCK ngày 13/4/2026 của Bộ Công Thương về việc góp ý Dự thảo Thông tư ban hành danh mục sản phẩm, hàng hóa có mức độ rủi ro trung bình và mức độ rủi ro cao thuộc phạm vi quản lý của Bộ Công Thương, VCCI cho biết, việc xây dựng danh mục này là cần thiết, nhằm tạo cơ sở xác định cơ chế quản lý phù hợp với từng loại hàng hóa, bảo đảm an toàn cho người tiêu dùng và nâng cao tính minh bạch trong quản lý chất lượng sản phẩm.
Tuy nhiên, trên cơ sở tổng hợp ý kiến từ doanh nghiệp và hiệp hội, VCCI cho rằng, việc xác định mức độ rủi ro đối với nhiều nhóm hàng hóa trong Dự thảo còn thiếu cơ sở khoa học và chưa bảo đảm tính logic.
Nghị định số 37/2026/NĐ-CP quy định việc xác định mức độ rủi ro phải dựa trên bằng chứng khoa học, dữ liệu thực tiễn, bảo đảm tính minh bạch, khách quan và tương xứng với yêu cầu quản lý nhà nước. Dù vậy, bản thuyết minh của Dự thảo mới chỉ đưa ra các đánh giá chung về sản phẩm, hàng hóa, chưa có số liệu hay bằng chứng khoa học cụ thể để chứng minh cho việc phân loại.
Bên cạnh đó, phương pháp đánh giá rủi ro theo mô hình P – C – K chưa được giải trình đầy đủ về cơ sở xác định các hệ số, xác suất phát sinh mối nguy, mức độ hậu quả và hệ số điều chỉnh rủi ro. Việc áp dụng phương pháp này được cho là chưa thống nhất khi chỉ một số nhóm sản phẩm như tiền chất thuốc nổ, thuốc nổ công nghiệp hay thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn được chấm điểm rủi ro, trong khi nhiều nhóm hàng hóa khác chưa có điểm đánh giá cụ thể.
Theo phản ánh của doanh nghiệp, dự thảo đang xếp nhiều nhóm hàng tiêu dùng phổ thông vào nhóm rủi ro cao, trong khi một số sản phẩm có khả năng gây mất an toàn trực tiếp như thuốc nổ lại ở mức rủi ro trung bình, làm giảm tính logic của hệ thống phân loại.
Đối với nhóm sữa, thực phẩm chế biến và đồ uống không cồn, doanh nghiệp cho rằng việc xếp các sản phẩm như sữa dạng lỏng, sữa bột, sữa lên men, phomat, dầu thực vật và đồ uống không cồn vào nhóm rủi ro cao chưa phù hợp với Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Nghị định số 37/2026/NĐ-CP và thông lệ quốc tế về quản lý an toàn thực phẩm.
Theo doanh nghiệp, đây là các sản phẩm được sản xuất theo quy trình công nghiệp khép kín, áp dụng công nghệ tiệt trùng, thanh trùng, đóng gói kín cùng hệ thống quản lý chất lượng như HACCP, ISO, nên xác suất phát sinh sự cố trong điều kiện sử dụng thông thường là thấp.
Doanh nghiệp cũng dẫn phương pháp đánh giá rủi ro P – C – K trong Dự thảo để cho rằng các sản phẩm như sữa chế biến, đồ uống không cồn và dầu thực vật đều có xác suất phát sinh mối nguy thấp, khả năng kiểm soát cao nhờ hệ thống quản lý chất lượng nhiều tầng và cơ chế truy xuất nguồn gốc. Tổng mức rủi ro chỉ ở mức thấp hoặc thấp - trung bình, chưa tương xứng với việc bị xếp vào nhóm “rủi ro cao”.
Ngoài ra, doanh nghiệp phản ánh thực tiễn nhiều năm qua cho thấy, các vụ ngộ độc thực phẩm quy mô lớn chủ yếu liên quan đến thực phẩm tươi sống, thực phẩm đường phố hoặc chuỗi cung ứng nhỏ lẻ, trong khi gần như không ghi nhận sự cố diện rộng với các nhóm thực phẩm chế biến, đóng gói ổn định.
VCCI cho rằng cách tiếp cận của dự thảo đang có xu hướng đánh đồng toàn bộ nhóm thực phẩm với hàng hóa rủi ro cao, chưa phản ánh đúng sự khác biệt giữa thực phẩm tươi sống và các sản phẩm chế biến công nghiệp có nhiều cơ chế kiểm soát nội tại.
Cách phân loại hiện nay cũng chưa phù hợp với Codex Alimentarius và thông lệ quản lý tại EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc, nơi việc quản lý rủi ro được thực hiện trên cơ sở đánh giá từng mối nguy cụ thể, mức độ phơi nhiễm thực tế và khả năng kiểm soát trong toàn bộ chuỗi cung ứng, thay vì mặc định toàn bộ nhóm thực phẩm là rủi ro cao.
Theo VCCI, nếu chuyển các nhóm sản phẩm này sang diện rủi ro cao có thể phát sinh thêm thủ tục hành chính, thay đổi cơ chế quản lý từ tự công bố sang kiểm soát chặt hơn, làm tăng chi phí tuân thủ và chưa phù hợp với chủ trương cải cách thủ tục hành chính, tăng cường hậu kiểm của Chính phủ.
Từ đó, cộng đồng doanh nghiệp đề nghị cơ quan soạn thảo rà soát lại danh mục hàng hóa rủi ro trung bình và rủi ro cao; loại bỏ các sản phẩm chưa có cơ sở đánh giá định lượng đầy đủ; tiếp tục áp dụng cơ chế tự công bố như hiện hành và thực hiện phân loại rủi ro trên cơ sở khoa học, định lượng đối với từng sản phẩm cụ thể.
Đối với bia và đồ uống có cồn, doanh nghiệp cho rằng việc xếp vào nhóm rủi ro cao chưa phản ánh đầy đủ bản chất khoa học của sản phẩm và chưa phù hợp với phương pháp đánh giá rủi ro định lượng cũng như thông lệ quốc tế.
Theo phản ánh của doanh nghiệp, bia có mức độ rủi ro vi sinh thấp do tồn tại nhiều “rào cản vi sinh” trong quá trình sản xuất và lưu thông như môi trường pH thấp, hàm lượng ethanol, quy trình đun sôi nguyên liệu, thanh trùng và đóng gói kín hoàn toàn.
Doanh nghiệp cho biết, với phương pháp đánh giá P – C – K, bia chỉ thuộc nhóm “rủi ro thấp” với chỉ số R dưới 4,5 do xác suất phát sinh mối nguy thấp, khả năng kiểm soát cao và nguy cơ phơi nhiễm thực tế thấp trong điều kiện lưu thông thông thường.
Các doanh nghiệp cũng cho rằng dự thảo đang có sự nhầm lẫn giữa rủi ro an toàn thực phẩm nội tại của bia với rủi ro sức khỏe cộng đồng do hành vi lạm dụng đồ uống có cồn. Theo đó, cảnh báo của WHO liên quan đến bia chủ yếu xuất phát từ nguy cơ lạm dụng đồ uống có cồn chứ không phải từ mối nguy an toàn thực phẩm của sản phẩm.
Tại EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản và Trung Quốc, bia được quản lý như thực phẩm chế biến ổn định và không bị mặc định xếp vào nhóm rủi ro cao tương đương các hàng hóa nguy hiểm như hóa chất nguy hiểm hay vật liệu nổ.
Từ các phân tích trên, doanh nghiệp đề nghị loại bỏ các sản phẩm này khỏi danh mục hàng hóa rủi ro trung bình và rủi ro cao, đồng thời bảo đảm việc phân loại rủi ro được thực hiện trên cơ sở dữ liệu định lượng, bằng chứng khoa học và đặc tính thực tế của từng sản phẩm theo Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Nghị định số 37/2026/NĐ-CP và Codex Alimentarius.
Thu Trang/Báo Tin tức và Dân tộc