Thành tựu ấn tượng giai đoạn 2021 - 2025 cùng các quyết sách chiến lược, niềm tin và khát vọng “vươn mình” là nền tảng vững chắc để Việt Nam bứt phá trong giai đoạn mới 2026 - 2030, hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao đến năm 2045.
Kinh tế - xã hội giai đoạn 2021 - 2025: Ấn tượng và Nền tảng
Ấn tượng đầu tiên là công cuộc cải cách toàn diện - từ thể chế, tinh gọn tổ chức, bộ máy, đến sáp nhập tỉnh, thành phố, vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, mở ra không gian phát triển mới; cùng với việc ban hành những quyết sách chiến lược tạo đột phá cho các lĩnh vực then chốt (khoa học - công nghệ, hội nhập quốc tế, cải cách thể chế, phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế Nhà nước, bảo đảm an ninh năng lượng, đổi mới giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa cùng nhiều cơ chế đặc thù cho một số tỉnh, thành phố lớn…). Nhiều quyết sách chưa từng có tiền lệ nhân kỷ niệm những sự kiện trọng đại của đất nước hay ứng phó, khắc phục hậu quả dịch bệnh, thiên tai, bão lụt như: chiến dịch vắc xin dịch Covid-19, phát tiền mặt cho người dân, xóa nhà tạm, nhà dột nát, chiến dịch xây dựng nhà mới và sửa sang nhà cũ cho người dân sau bão lũ...
Theo Cục Hải quan, hoạt động xuất nhập khẩu năm 2025 đạt khoảng 920 tỷ USD, mức cao nhất từ trước tới nay. Ảnh: Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn
Các chính sách tài khóa (giãn hoãn, giảm thuế và phí), chính sách tiền tệ (bình ổn lãi suất, cho phép cơ cấu lại nợ, tăng tiếp cận tín dụng, ổn định tỷ giá, thị trường vàng…) được ban hành. Nhiều luật quan trọng và nghị quyết đặc thù được Quốc hội thông qua, vừa nhằm giải quyết điểm nghẽn, vừa kiến tạo phát triển... Những quyết sách này góp phần hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, vượt qua bão lũ chưa từng có, kích cầu tạo đà phục hồi kinh tế, tạo nền tảng pháp lý cho phát triển nhanh, bền vững và bao trùm hơn thời gian tới.
Dấu ấn chính sách có tác động dài hạn trong giai đoạn 2021 - 2025 chính là việc triển khai đồng bộ 3 đột phá chiến lược: Hoàn thiện thể chế, phát triển kết cấu hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Thể chế được thiết kế, hoàn thiện theo hướng đổi mới tư duy, từ bỏ quan điểm "không quản được thì cấm" sang "kiến tạo, đồng hành" giúp tháo gỡ nhiều điểm nghẽn, vướng mắc, khơi thông nguồn lực cho sản xuất - kinh doanh. Nhiều dự án, công trình hạ tầng chiến lược, trọng điểm hoàn thành trước thời hạn, tạo diện mạo mới cho đất nước. Cơ cấu, chất lượng lao động đạt kết quả tích cực, đóng góp quan trọng vào tăng năng suất lao động của nền kinh tế, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 24,1% năm 2020 lên 29,2% năm 2025; tỷ lệ thất nghiệp ở mức thấp dưới 3%.
Với quyết tâm chính trị cao, tinh thần khẩn trương, quyết liệt và sự phối hợp đồng bộ các chính sách vĩ mô, tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021 - 2025 đạt bình quân 6,3%/năm, cao hơn giai đoạn 2016 - 2020, thuộc nhóm tăng trưởng cao của khu vực và thế giới. Quy mô kinh tế mở rộng (ước đạt 514 tỷ USD), xếp thứ 32 thế giới và thứ 4 ASEAN, gấp 1,5 lần năm 2020; GDP bình quân đầu người 5.026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, chính thức bước vào nhóm quốc gia thu nhập trung bình cao; quy mô thương mại quốc tế và thu hút FDI thuộc Top 20 thế giới, xuất khẩu nông sản đứng thứ 15 thế giới và thứ 2 ASEAN.
Cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng có bước tiến rõ nét: tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP tăng từ 78,6% năm 2020 lên 80,4% năm 2025; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP tăng từ 23,9% năm 2020 lên 24,7% năm 2025; đầu tư công có trọng tâm, trọng điểm, hạn chế dàn trải, phát triển hạ tầng giao thông đạt kết quả ấn tượng, vượt chỉ tiêu đề ra; nhiều dự án, vấn đề tồn đọng lâu nay được quyết liệt tháo gỡ.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế số đạt bình quân 10,45%/năm, chiếm khoảng 14,02% GDP năm 2025. Kinh tế tư nhân ngày càng năng động và vai trò rõ nét hơn (đóng góp khoảng 52% GDP, 30% thu ngân sách, tạo việc làm cho 82% lao động), bước đầu hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, cùng tham gia kiến tạo các công trình quan trọng của đất nước.
Cùng với đó, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định trong bối cảnh thế giới “bất thường mới“, các cân đối lớn bảo đảm: lạm phát được kiểm soát ở mức bình quân 3,03%; tỷ giá, lãi suất, an toàn hệ thống tài chính, tiền tệ cơ bản khá ổn định; nợ công, nợ nước ngoài, thâm hụt ngân sách, nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ đều dưới ngưỡng an toàn. Chất lượng tăng trưởng, đời sống dân sinh có chuyển biến tích cực, năng suất lao động tăng bình quân 5,2%; đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng năm 2025 đạt 47%, vượt mục tiêu là 45%; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm xuống còn 1,3% (từ 4,4% năm 2021); chiến dịch xây dựng đường dây truyền tải điện mạch 3, xóa nhà tạm, dột nát, xây sửa nhà cửa sau bão lũ đã hoàn thành mục tiêu trước mục tiêu...
Kết quả này minh chứng rõ nét cho năng lực, bản lĩnh lãnh đạo của Đảng, khả năng linh hoạt, sáng tạo, quyết liệt của Chính phủ cùng với sự đồng hành, sát cánh của Quốc hội và sự đồng lòng của người dân, doanh nghiệp, giúp nền kinh tế vượt qua các cú sốc, đạt kết quả rất tích cực, nâng cao vị thế và thứ hạng quốc tế của đất nước trên nhiều lĩnh vực. Nổi bật là vị trí 44/139 và thứ 3 ASEAN về Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII); Chỉ số Hạnh phúc xếp thứ 46/143 thế giới và thứ 2 ASEAN, tăng 8 bậc so với năm 2024; chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2025 xếp thứ 93/193 quốc gia (tăng 22 bậc so với năm 2021)... Những quyết sách và kết quả ấn tượng này tạo nền tảng bứt phá tiếp theo.
Dù vậy, nền kinh tế còn nhiều khó khăn, thách thức. Trước tiên là rủi ro, bất định bên ngoài luôn hiện hữu, khó lường và có xu hướng tăng. Ở trong nước, các động lực tăng trưởng phục hồi chưa mạnh, không đồng đều. Xuất khẩu, thu hút FDI có xu hướng chậm lại; giải ngân đầu tư công còn chậm; tiêu dùng phục hồi nhưng còn thấp hơn trước dịch Covid-19. Thị trường bất động sản phục hồi thiếu bền vững, giá nhà đất tăng cao, cung - cầu còn mất cân đối; rủi ro tài chính - tiền tệ gia tăng khi nhu cầu vốn lớn song thị trường vốn (cổ phiếu, trái phiếu, quỹ đầu tư...) chưa theo kịp; tỷ giá, thị trường vàng biến động; dư địa chính sách thu hẹp. Tiến trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng yếu kém còn chậm so với yêu cầu.Thu ngân sách đạt kết quả tích cực nhưng chưa thực sự bền vững khi hơn 20% nguồn thu là từ nhà đất năm 2025 (lên đến 25% trong dự toán ngân sách năm 2026).
Một thách thức nữa là chất lượng thể chế, pháp luật và khâu thực thi còn nhiều bất cập khi nhiều văn bản được ban hành cùng một lúc, hướng dẫn và thực hiện khó theo kịp. Vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, chuyển đổi mô hình hoạt động của hộ kinh doanh còn nhiều vướng mắc.
Chất lượng tăng trưởng chưa cao, dù năng suất lao động năm 2025 ước tăng 6,83% (từ mức tăng 5,5% năm trước) nhưng không đồng đều. Hệ số ICOR còn cao (tính theo số tuyệt đối, ở mức 5 lần), cho thấy hiệu quả đầu tư cần quan tâm cải thiện.
Năng lực tự chủ, tự cường của nền kinh tế còn khiêm tốn khi tỷ lệ nội địa hóa bình quân các ngành, lĩnh vực mới đạt khoảng 36,6%; tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa của khu vực kinh tế trong nước tiếp tục giảm (từ mức 27,8% năm 2021 xuống còn 23,2% năm 2025)... Tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường đô thị và các rủi ro phi truyền thống ngày càng rõ nét.
Khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo được TP. Hồ Chí Minh xác định là động lực chủ yếu cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Ảnh: Thạc Hiếu
Bối cảnh, mục tiêu, giải pháp giai đoạn 2026 - 2030
Bối cảnh giai đoạn 2026 - 2030 mở ra với nhiều cơ hội và thách thức đan xen, với bất định chiếm ưu thế. Xu hướng phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi xanh và số, năng lượng diễn ra mạnh mẽ, chính là cơ hội để Việt Nam đổi mới mô hình tăng trưởng, thực hiện các đột phá chiến lược. Cạnh tranh chiến lược thương mại - công nghệ; xung đột địa chính trị; thách thức an ninh phi truyền thống và những giới hạn của mô hình tăng trưởng truyền thống đặt ra yêu cầu tất yếu đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng, tạo tiền đề đổi mới mô hình phát triển bền vững, lâu dài.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nêu rõ: phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD/năm, gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, cùng với nhiều định hướng, nhiệm vụ quan trọng, cụ thể về xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả cơ cấu lại nền kinh tế, thực hiện ba đột phá chiến lược...
Năm nhóm giải pháp đột phá để Việt Nam tăng tốc đạt tăng trưởng 10% trở lên và bảo đảm các mục tiêu phát triển bền vững.
Một là, hệ thống chính trị các cấp cần sớm cụ thể hóa chương trình hành động, kế hoạch, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm đưa Nghị quyết Đại hội Đảng XIV vào cuộc sống. Trong đó cần xác lập đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển đổi mô hình từ dựa nhiều vào lao động giá rẻ, đầu tư vốn, sang dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, cải cách thể chế, phân bổ hiệu quả nguồn lực, từ tư duy “tăng trưởng đơn thuần” sang “phát triển bền vững”. Cùng với đó, tiếp tục tổ chức thực hiện thành công các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, các luật, nghị quyết đã được Quốc hội và Chính phủ ban hành, gắn với nâng cao năng lực thực thi ở các cấp, nhất là cấp chính quyền cơ sở.
Hai là, mục tiêu tăng trưởng 10% trở lên giai đoạn 2026 - 2030 cùng với ổn định kinh tế vĩ mô là rất thách thức, đòi hỏi nỗ lực, đổi mới tư duy và cách làm thực chất.Theo đó, cần thực thi thực chất, hiệu quả ba đột phá chiến lược (thể chế và thực thi; hạ tầng đồng bộ, hiện đại; và nguồn nhân lực chất lượng cao) theo hướng có chỉ tiêu, thước đo, thời hạn hoàn thành và đánh giá cụ thể để điều chỉnh kịp thời.
Làm mới động lực tăng trưởng truyền thống và khai thác hiệu quả các động lực mới. Với các động lực truyền thống, cần giữ vững mặt trận xuất khẩu (gồm xuất khẩu dịch vụ), kích cầu đầu tư và tiêu dùng trong nước, trong đó cải thiện thực chất môi trường đầu tư - kinh doanh, tăng niềm tin để các khu vực kinh tế (Nhà nước, tư nhân, FDI) cùng phát triển là yêu cầu then chốt. Với các động lực mới, cần sớm xác lập mô hình tăng trưởng mới (chuyển mạnh từ dựa nhiều vào vốn và lao động sang dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, cải cách thể chế gắn với năng lực thực thi, tăng năng suất và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, kiến tạo để các đầu tàu kinh tế tăng tốc, tăng lan tỏa...).
Ba là, kiên định ổn định kinh tế vĩ mô. Theo đó, chính sách tài khóa cần có trọng tâm, trọng điểm, điều chỉnh kịp thời, phối hợp chặt chẽ với chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt và các chính sách vĩ mô khác nhằm thúc đẩy tăng trưởng và kiểm soát lạm phát; bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu (gồm cả điện năng), điều hành linh hoạt lãi suất - tỷ giá, bình ổn thị trường vàng, lành mạnh hóa thị trường bất động sản, kiểm soát giá nhà đất và rủi ro liên thông giữa thị trường tài chính, tiền tệ - bất động sản.
Cùng với đó, sớm xây dựng Đề án cải cách thị trường tài chính, phát triển thị trường tài chính cân bằng, đồng bộ, giảm bớt phụ thuộc nhiều vào tín dụng ngân hàng gắn với chú trọng phân bổ vốn hiệu quả; quyết tâm nâng hạng thị trường chứng khoán theo đúng lộ trình; vận hành trung tâm tài chính quốc tế, thị trường tín chỉ carbon, tài sản mã hóa…theo kế hoạch, phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm, các loại nguồn vốn cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và năng lượng…
Bốn là, đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, chú trọng nâng cao chất lượng tăng trưởng. Cụ thể là: (i) Đẩy nhanh tiến độ xử lý các dự án còn vướng mắc, tồn đọng nhằm giải phóng nguồn lực, chống lãng phí, cũng là tăng hiệu quả đẩu tư; (ii) Hết sức quan tâm giải quyết các vấn đề nóng, bức xúc như ùn tắc giao thông, ngập úng lụt và ô nhiễm môi trường ở các đô thị, nhất là tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và địa bàn lân cận; (iii) Chú trọng cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng yếu kém còn lại, cơ cấu lại đầu tư công theo hướng bền vững (tăng tỷ trọng đầu tư cho khoa học, công nghệ, y tế, giáo dục, hạ tầng số và hạ tầng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu.…), cùng với việc quyết tâm nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư (giảm hệ số ICOR xuống mức khoảng 4 lần); (iv) Xây dựng Đề án tăng năng suất lao động, đề án chuyển đổi xanh quốc gia, đề án nâng cao sức chống chịu và tự chủ chiến lược của nền kinh tế và doanh nghiệp, nhất là lĩnh vực công nghiệp chiến lược, công nghiệp phụ trợ.
Năm là, xây dựng và thực thi kế hoạch, giải pháp cụ thể về huy động, sử dụng và phân bổ nguồn lực khả thi, hiệu quả. Theo ước tính của Nhóm Nghiên cứu, để đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP 10% trở lên, cần huy động khoảng 260 tỷ USD mỗi năm trong giai đoạn 2026 - 2030, chưa tính đến nhu cầu vốn thúc đẩy chuyển đổi xanh và ứng phó biến đổi khí hậu, dự phòng khẩn cấp. Nhu cầu nguồn lực là rất lớn, đòi hỏi đa dạng hóa phương thức và thị trường nguồn lực (như thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, thị trường carbon, tài sản số, quỹ đầu tư, tài chính xanh…) gắn với kế hoạch và tổ chức phân bổ nguồn lực hiệu quả, với tiêu chí, thước đo đánh giá hiệu quả cụ thể.
TS. Cấn Văn Lực - Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Ủy viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ