Kỳ 3: Ai chịu trách nhiệm?

Kỳ 3: Ai chịu trách nhiệm?
8 phút trướcBài gốc
Điều đáng suy nghĩ hơn là ở hầu hết các vấn đề phát sinh, gần như khâu nào cũng có cơ quan quản lý, nhưng khi sự việc kéo dài, trách nhiệm lại trở nên phân tán. Biển cuối cùng vẫn là nơi tiếp nhận mọi hệ lụy, còn câu hỏi ai chịu trách nhiệm đến cùng vẫn chưa dễ trả lời.
Kiểm tra nhiều, xử lý chưa tới cùng
Một buổi sáng tại Cảng cá Cửa Việt, hàng chục tàu cá nối đuôi nhau cập bến, khoang thuyền mở tung, hải sản được chuyển lên bờ không ngớt. Ông Lê Văn Sơn, Giám đốc Ban Quản lý Cảng cá Quảng Trị, cho biết áp lực môi trường ở khu vực này đã tồn tại nhiều năm. Mỗi ngày, số lượng tàu thuyền ra vào rất lớn, trong khi việc bốc dỡ, phân loại và vận chuyển thủy sản diễn ra gần như liên tục, làm phát sinh nước thải, rác hữu cơ với khối lượng đáng kể.
Theo ông Sơn, Ban Quản lý cảng thường xuyên phối hợp thu gom rác, vệ sinh khu vực bốc dỡ và nhắc nhở các chủ tàu, tiểu thương giữ gìn môi trường. Tuy nhiên, vào những thời điểm tàu cập bến dồn dập, lượng hải sản tăng mạnh khiến áp lực vệ sinh môi trường vượt quá khả năng đáp ứng của hệ thống thu gom và xử lý hiện có.
Ô nhiễm rác thải tại cửa biển Cửa Việt - Quảng Trị.
Trao đổi với PV Báo CAND, ông Lê Văn Thông, Chủ tịch UBND xã Cửa Việt, cho biết chính quyền cơ sở luôn ở trong thế phải xử lý đồng thời hai yêu cầu tưởng như đối lập. Một mặt, địa phương phải bảo đảm sinh kế cho hàng chục hộ dân gắn bó với nghề hấp, sấy cá, chế biến thủy sản và dịch vụ hậu cần nghề biển. Mặt khác, chính quyền phải từng bước giảm ô nhiễm, chỉnh trang môi trường và xây dựng hình ảnh một điểm đến du lịch sạch, văn minh.
Theo ông Thông, nhiều cơ sở chế biến hải sản đã tồn tại từ hàng chục năm trước, nằm xen cài trong khu dân cư. Đây là nguồn thu nhập chính của nhiều gia đình. Vì vậy, việc di dời hoặc yêu cầu thay đổi phương thức sản xuất không thể thực hiện trong ngày một ngày hai. “Chúng tôi không thể chỉ dùng biện pháp hành chính. Nếu xử lý cứng nhắc, người dân sẽ gặp khó khăn về sinh kế. Nhưng nếu chậm thay đổi, môi trường tiếp tục bị ảnh hưởng. Chính quyền phải đi từng bước, vừa tuyên truyền, vừa đầu tư hạ tầng và tìm giải pháp phù hợp”, ông Thông nói.
Cũng theo ông Thông, vào mùa hè, lượng du khách đổ về Cửa Việt tăng mạnh. Áp lực đối với vệ sinh môi trường, trật tự đô thị, cứu hộ cứu nạn và bảo đảm an ninh, an toàn trên bãi biển tăng lên rõ rệt. Chỉ cần một khâu xử lý chậm trễ, hình ảnh điểm đến có thể bị ảnh hưởng ngay lập tức.
Đây cũng là thực trạng tại nhiều làng biển miền Trung. Từ các cơ sở hấp, sấy cá đến hoạt động sơ chế thủy sản quy mô hộ gia đình, phần lớn tồn tại từ lâu, gắn chặt với sinh kế của cư dân ven biển nhưng đồng thời tạo ra áp lực môi trường ngày càng lớn.
Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị thừa nhận công tác quản lý môi trường ven biển vẫn gặp nhiều khó khăn do hạ tầng xử lý chưa theo kịp tốc độ phát triển dân cư, sản xuất và du lịch. Điều đáng nói là những tồn tại này không hẳn xuất phát từ việc thiếu quy định pháp luật. Các đợt kiểm tra môi trường vẫn được thực hiện. Việc nhắc nhở, xử lý vi phạm vẫn diễn ra. Nhưng sau mỗi đợt kiểm tra, nhiều vấn đề lại tiếp tục tái diễn.
Một cán bộ môi trường địa phương nhìn nhận, khó khăn lớn nhất là phần lớn cơ sở sản xuất ven biển đều có quy mô nhỏ, nằm xen kẽ trong khu dân cư và liên quan trực tiếp đến thu nhập của người dân. Nếu xử lý cứng rắn mà không có phương án chuyển đổi phù hợp, đời sống của nhiều hộ dân sẽ bị ảnh hưởng. Nhưng nếu kéo dài, ô nhiễm tiếp tục tích tụ theo thời gian.
Biết tồn tại nhưng khó xử lý dứt điểm là vòng luẩn quẩn kéo dài nhiều năm ở không ít địa phương ven biển. Tại Khánh Hòa, câu chuyện kiểm soát nước thải ven biển cũng cho thấy mức độ phức tạp tương tự. Ông Lê Xuân Lộc, Trưởng Phòng Kinh tế - Hạ tầng và Đô thị phường Bắc Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa, cho biết tình trạng người dân và cơ sở kinh doanh đấu nối nước thải vào hệ thống thoát nước mưa là một trong những nguyên nhân khiến nước thải vẫn chảy ra biển.
Dự án hàng trăm tỉ đồng phục vụ phát triển du lịch tại biển Gio Hải, xã Cửa Việt - Quảng Trị bỏ hoang nhiều năm.
Đoạn ven biển từ phía bắc cầu Trần Phú đến Hòn Một hiện có 53 cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch cùng hàng trăm hộ dân sinh sống. Theo ông Lộc, tình trạng đấu nối trái phép đã tồn tại nhiều năm. Sau nhiều đợt kiểm tra, lực lượng chức năng đã bịt một số điểm đấu nối, song việc xác định chính xác tổ chức, cá nhân vi phạm gặp rất nhiều khó khăn do các tuyến ống nằm sâu hơn một mét dưới vỉa hè. Muốn truy tìm tận gốc phải đào bới toàn bộ hệ thống kỹ thuật, tốn nhiều thời gian và kinh phí.
UBND phường Bắc Nha Trang hiện đang mở rộng kế hoạch kiểm tra tại các tuyến đường Tháp Bà, Cù Huân, Tôn Thất Tùng, Phạm Văn Đồng và các khu vực ven biển khác. Ngoài xử phạt hành chính, các tổ công tác buộc tháo dỡ những điểm đấu nối trái phép.
Ban Quản lý Vịnh Nha Trang và UBND phường Bắc Nha Trang cũng đã kiến nghị đẩy nhanh tiến độ vận hành Nhà máy xử lý nước thải phía Bắc Nha Trang; đưa hai cửa xả ra khỏi khu vực Hòn Chồng, Đặng Tất, nơi có rạn san hô và hệ sinh thái biển ven bờ đang phục hồi; đồng thời đầu tư đồng bộ hệ thống thu gom, xử lý nước thải trên đảo Trí Nguyên.
Những kiến nghị ấy cho thấy các địa phương không thiếu quyết tâm. Nhưng khi hạ tầng xử lý chưa hoàn thiện, ô nhiễm vẫn tiếp tục đổ ra biển.
Khi trách nhiệm bị phân tán
Ô nhiễm kéo dài, công trình hoàn thành nhưng chưa thể đưa vào khai thác, dự án được giao quỹ đất rộng lớn nhưng nhiều năm vẫn dang dở... Dọc bờ biển miền Trung, những tồn tại này không chỉ gây lãng phí tài nguyên, mà còn làm chậm cơ hội phát triển của nhiều địa phương.
Ông Lê Minh Tuấn, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị, cho rằng phát triển du lịch biển không thể chỉ dừng ở việc xây dựng công trình. “Nếu chỉ đầu tư hạ tầng mà thiếu dịch vụ đi kèm thì rất khó phát huy hiệu quả. Du lịch biển hiện nay phải gắn với môi trường, với trải nghiệm và với khả năng duy trì lâu dài”, ông Tuấn nói.
Dự án khu nghỉ dưỡng Huyền thoại Địa Trung Hải - Huế từng bị Thanh tra Chính phủ chỉ rõ một số sai phạm.
Theo ông Tuấn, trong khi nhiều bãi biển mới chưa thể vận hành đồng bộ, lượng khách vẫn tiếp tục dồn về các điểm quen thuộc như Cửa Việt và Cửa Tùng, khiến áp lực môi trường ngày càng lớn. “Nơi cần giãn tải thì chưa hoạt động được. Nơi đang quá tải lại tiếp tục phải gánh thêm áp lực”, ông Tuấn nhận xét. Tại Huế, dọc vịnh Lăng Cô vẫn còn nhiều khu đất đã được giao cho nhà đầu tư nhưng tiến độ triển khai chưa đạt như kỳ vọng. Có dự án được giới thiệu với quy mô lớn, song sau nhiều năm vẫn chưa hình thành sản phẩm du lịch cụ thể.
Lãnh đạo UBND thành phố Huế nhiều lần yêu cầu các cơ quan chuyên môn rà soát toàn diện những dự án chậm tiến độ, phân loại rõ nguyên nhân và đề xuất hướng xử lý. Với các dự án không còn khả năng triển khai, quan điểm của địa phương là kiên quyết thu hồi để tránh lãng phí tài nguyên và cơ hội phát triển. Một cán bộ ngành du lịch Huế cho rằng điều đáng tiếc nhất không chỉ là đất ven biển bị bỏ trống, mà là thời gian phát triển bị mất đi. Trong khi các địa phương khác liên tục nâng cấp sản phẩm, một dự án chậm triển khai nhiều năm đồng nghĩa với việc cả điểm đến bỏ lỡ cơ hội thu hút khách và nguồn lực đầu tư.
Tại Đà Nẵng, khi được hỏi ai chịu trách nhiệm chính đối với các vấn đề môi trường và áp lực hạ tầng ven biển, ông Nguyễn Đức Vũ, Trưởng Ban Quản lý Bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch TP Đà Nẵng, cho rằng đây không còn là câu chuyện của riêng một đơn vị hay một ngành cụ thể. Theo ông Vũ, các vấn đề phát sinh tại khu vực ven biển hiện liên quan đồng thời đến môi trường, thoát nước đô thị, du lịch, cứu hộ cứu nạn, hạ tầng giao thông và chính quyền địa phương.
“Có những vấn đề thuộc trách nhiệm trực tiếp của đơn vị quản lý bãi biển, nhưng cũng có những vấn đề liên quan đến hệ thống thoát nước đô thị, môi trường hoặc quy hoạch hạ tầng chung của thành phố”, ông Vũ cho biết.
Nước thải chảy ra biển tại cống ở Hòn Một, phường Bắc Nha Trang ngày 29/4/2026.
Bên cạnh câu chuyện môi trường, Đà Nẵng còn phải đối mặt với bài toán giữ gìn trật tự, văn minh tại các bãi biển du lịch. Vào mùa cao điểm, tại nhiều khu vực ven biển xuất hiện tình trạng bán hàng rong, lấn chiếm vỉa hè, họp chợ tự phát và chèo kéo du khách. Dù không phải lúc nào cũng nghiêm trọng, nhưng nếu không kiểm soát tốt, những hiện tượng này có thể làm giảm đáng kể trải nghiệm của du khách.
Thiếu tướng Nguyễn Hữu Hợp, Giám đốc Công an TP Đà Nẵng, cho biết Công an thành phố thường xuyên chỉ đạo các lực lượng tăng cường tuần tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và gây mất mỹ quan tại khu vực ven biển. “Một điểm đến muốn phát triển bền vững thì phải an toàn, văn minh và thân thiện. Giữ gìn trật tự ở khu vực ven biển cũng chính là bảo vệ hình ảnh của Đà Nẵng trong mắt du khách”, Thiếu tướng Nguyễn Hữu Hợp nhấn mạnh.
Lực lượng Công an Đà Nẵng tuần tra, đảm bảo an ninh trật tự tại bờ biển.
Đại diện Ban Quản lý Bán đảo Sơn Trà và các bãi biển du lịch Đà Nẵng cho biết đơn vị đang phối hợp với các sở, ngành tăng cường kiểm tra các cửa xả ven biển, đồng thời đề xuất giải pháp phân bổ lại không gian du lịch nhằm giảm áp lực cho khu vực trung tâm. Tuy nhiên, theo một chuyên gia môi trường tại Đà Nẵng, điều khó nhất hiện nay không chỉ là xử lý từng sự cố cụ thể, mà là xác định đầu mối chịu trách nhiệm xuyên suốt đối với toàn bộ không gian ven biển.
“Khi quản lý được chia theo từng lĩnh vực như du lịch, môi trường, thoát nước, giao thông, quy hoạch, thì rất dễ xảy ra tình trạng mọi áp lực cuối cùng đều đổ ra biển, nhưng trách nhiệm lại nằm ở nhiều nơi khác nhau”, vị chuyên gia nhận định. Như vậy, câu hỏi trách nhiệm không chỉ đặt ra với cơ quan quản lý nhà nước, mà còn với các nhà đầu tư đã được giao quỹ đất và cơ hội phát triển.
Không ai chịu trách nhiệm đến cùng (?)
Dưới góc độ bảo tồn, các chuyên gia cho rằng trách nhiệm đối với biển không chỉ nằm ở việc thu gom rác hay xử lý nước thải, mà còn ở khả năng giữ gìn những hệ sinh thái tự nhiên đang nâng đỡ toàn bộ ngành du lịch biển.
ThS Trần Hữu Vỹ, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn đa dạng sinh học Nước Việt Xanh (GreenViet), nhận định rằng san hô, cỏ biển và nguồn lợi thủy sản chính là hạ tầng tự nhiên của du lịch biển. Nếu những hệ sinh thái này bị suy thoái, các bãi biển dù đẹp đến đâu cũng khó giữ được sức hấp dẫn lâu dài. “Khi một rạn san hô mất đi, phải mất hàng chục năm mới có thể phục hồi. Nếu không xác định rõ trách nhiệm bảo tồn ngay từ đầu, chi phí phục hồi sẽ lớn hơn rất nhiều so với lợi ích ngắn hạn mà chúng ta thu được”, ông Vỹ nói.
Từ Cửa Việt đến Vịnh Lăng Cô, từ Đà Nẵng đến Nha Trang, một thực tế dễ nhận thấy là hầu như vấn đề nào cũng đã có quy định pháp luật điều chỉnh, có cơ quan quản lý và có các cuộc kiểm tra, chấn chỉnh. Thế nhưng, khi ô nhiễm kéo dài, công trình chậm đưa vào khai thác hoặc dự án ven biển bị bỏ hoang nhiều năm, việc xác định ai chịu trách nhiệm đến cùng lại không hề đơn giản.
Theo luật sư Đặng Linh, Trưởng Văn phòng Luật sư Linh Đặng tại Đông Hà (Quảng Trị), cơ quan môi trường chịu trách nhiệm kiểm tra chất lượng nước; ngành du lịch phụ trách khai thác điểm đến; chính quyền địa phương quản lý trật tự và hạ tầng cơ sở; nhà đầu tư chịu trách nhiệm triển khai dự án; còn các ban quản lý chuyên ngành đảm nhiệm vận hành từng khu vực. Mỗi đơn vị phụ trách một phần việc, nhưng chính sự phân tách này khiến nhiều tồn tại kéo dài mà không có một đầu mối đủ thẩm quyền và trách nhiệm để xử lý đến cùng.
Ông Lương Nguyễn Minh Triết, Bí thư Tỉnh ủy Khánh Hòa nhiều lần nhấn mạnh rằng phát triển kinh tế biển phải đặt trên nền tảng bảo tồn tài nguyên và gìn giữ không gian công cộng cho người dân. Theo ông, biển không chỉ là lợi thế để thu hút đầu tư, mà còn là tài sản chung của cộng đồng và là nền tảng sinh kế lâu dài của địa phương. Vì vậy, mọi dự án ven biển phải được theo dõi chặt chẽ từ khi cấp phép đến quá trình triển khai, khai thác; những dự án chậm tiến độ, sử dụng đất kém hiệu quả hoặc gây ảnh hưởng đến môi trường cần được rà soát và xử lý dứt điểm. Quan điểm này cho thấy, phát triển biển không thể chỉ dừng ở việc thu hút dự án, mà phải đi cùng với trách nhiệm quản lý đến cùng đối với từng mét bờ biển và từng hệ sinh thái tự nhiên.
Ở biển Nha Tran, người dân và du khách tắm biển luôn trong tình trạng quá tải.
Biển không tự ô nhiễm. Những công trình ven biển cũng không tự nhiên bị bỏ hoang. Đằng sau mỗi dòng nước thải, mỗi dự án dang dở là những quyết định quản lý, những mắt xích thực thi chưa khép kín và đôi khi là sự chậm trễ trong việc xác định trách nhiệm cụ thể.
Khi mọi khâu đều có cơ quan phụ trách nhưng không có một đầu mối chịu trách nhiệm cuối cùng, những áp lực lên biển sẽ tiếp tục bị đẩy từ nơi này sang nơi khác thay vì được giải quyết tận gốc. Và khi đó, nỗi buồn âm ỉ của những bãi biển miền Trung không chỉ nằm ở những dòng nước đục hay các công trình dang dở, mà còn nằm ở một câu hỏi vẫn chưa có lời đáp rõ ràng: Ai chịu trách nhiệm đến cùng?
Thanh Bình-Hoài Thu-Hữu Toàn-Hải Lan
Nguồn CAND : https://cand.com.vn/ban-doc-cand/ky-3-ai-chiu-trach-nhiem--i804909/