Về Chính trị: Độc lập dân tộc - Đảng của dân tộc và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh, trong sạch của Nhân dân
Trong bối cảnh mới, để phát triển toàn diện, đồng bộ, bền vững và nhân văn, hơn lúc nào hết, phải lấy độc lập dân tộc làm nền móng, Nhân dân làm gốc, Đảng là hạt nhân lãnh đạo, pháp quyền là khuôn khổ hành động của toàn dân tộc.
Từ chủ thuyết Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc không chỉ là chủ quyền lãnh thổ, mà còn là chủ quyền, bản lĩnh văn hóa, tự chủ công nghệ, trí tuệ, kinh tế số và chủ quyền văn hóa và trí tuệ, ngoài lãnh thổ vật chất, cần phát triển và gìn giữ “biên giới mềm” (ngôn ngữ, văn hóa, không gian mạng…). Do đó, phát triển chủ thuyết Hồ Chí Minh chính là phát triển bản sắc dân tộc để bảo vệ và phát huy căn tính Việt Nam tương dung với sự phát triển của nhân loại.
Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, “là đạo đức, là văn minh”, là văn hóa Việt Nam song hành với xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa “của dân, do dân, vì dân” hiện đại và nhân văn, kiến tạo phát triển, với bộ máy tinh gọn, liên thông và hiệu quả. Với tư cách là một đảng lãnh đạo, cầm quyền, Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng. Và, vì thế, “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại cho dân, ta phải hết sức tránh”(6). Bất luận trong hoàn cảnh nào: “Cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân”(7). Do đó,“Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”(8). Theo đó, phải dũng cảm gạt bỏ những thói tư túng, kéo bè kéo cánh, óc ông tướng bà tướng, thậm chí những “ông vua con”, tẩy trừ nạn phù hoa xa xỉ, trộm cắp, “dối trời lừa dân”… trong đảng viên, cán bộ, nhất là những người giữ trọng sự chính trị ở tất cả các cấp. Người khẳng định: “Tóm lại chính trị là: 1. Đoàn kết. 2. Thanh khiết từ to đến nhỏ”(9). Niềm tin của Nhân dân làm nên tính chính danh của cán bộ, của Đảng.
Rộng hơn, cao hơn và sâu hơn, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực to lớn”(10). Và, hơn ai hết, Hồ Chí Minh 17 lần đề cập tới “chủ nghĩa dân tộc” nhưng Hồ Chí Minh quyết không phải “là người theo chủ nghĩa dân tộc”. Không có nền độc lập nào nằm ngoài dân tộc, không có con người nào đứng ngoài dân tộc. Đó là chủ nghĩa dân tộc Việt Nam chân chính, quyết không phải là những chủ nghĩa dân tộc sô-vanh nước lớn, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, mang bản chất của giai cấp tư sản. Đây chính là cội nguồn mục tiêu và sự phát triển của nền độc lập dân tộc gắn chặt với chủ nghĩa xã hội thấm đẫm tinh thần tiến bộ và nhân văn quốc tế; là thước đo sự kiên định, tính triệt để cách mạng về quyền con người bất khả xâm phạm gắn liền với quyền đất nước độc lập thiêng liêng và quyền tự quyết dân tộc vô giá Việt Nam trong cộng đồng nhân loại.
Đây chính là chân lý và khát vọng thời đại, là triết lý chính trị cách mạng, triết lý giữ nước, sâu hơn là triết lý xã hội, triết lý nhân sinh và triết lý về con người của chủ thuyết Hồ Chí Minh. Đó cũng là đòi hỏi về vị thế, sức mạnh và uy tín của đất nước trong công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ. Đó không chỉ là niềm tin vững chắc, sự khẳng định về thắng lợi của một dân tộc gan góc hy sinh vì chính nghĩa, mà còn là tấm lòng đôn hậu, bao dung, tình thương yêu con người ở Hồ Chí Minh, dù là người Việt Nam hay bất cứ quốc gia dân tộc nào trên thế giới. Còn Dân thì còn nước, lòng Dân làm nên thế nước và vận mệnh quốc gia.
Về kinh tế – hướng tới giàu mạnh bền vững và nhân văn
Phát triển không chỉ là tăng trưởng kinh tế mà là kiến tạo toàn diện Việt Nam tương lai. Từ yêu cầu của tương lai Việt Nam, nhìn lại và hình dung về kinh tế, có thể thấy nổi bật ba trụ cột cần kiến tạo:
Thứ nhất: Về tầm nhìn, Việt Nam cần một mô hình mới: từ “sản xuất tồn tại” sang “kinh tế tri thức và sáng tạo”; thứ hai: Bảo đảm phát triển liên ngành và tích hợp - khoa học liên ngành, công nghiệp nhằm tập trung tích hợp công nghệ số (AI, AR/VR), khoa học tinh thần (cảm xúc công chúng và văn hóa bản sắc, nhân văn); thứ ba: Hệ chính sách và hệ sinh thái - một bước nhảy đòi hỏi thể chế phù hợp hỗ trợ: Định chế kinh tế với sinh thái, quỹ đầu tư sáng tạo, liên kết đại học - doanh nghiệp và xuất khẩu trong chuỗi giá trị và cung ứng toàn cầu… Nghĩa là, kiến tạo hệ sinh thái bảo đảm kinh tế có khả năng tự điều chỉnh - tự phục hồi - tự phát triển không ngừng song hành với phát triển xã hội và phát triển bền vững môi trường tự nhiên.
Việt Nam đang hội tụ các tiềm năng: Dân số trẻ, nhu cầu phát triển lớn, hội nhập quốc tế, khát vọng xây dựng bản sắc riêng. Nếu hội đủ ba điều kiện: tầm nhìn mới, tích hợp liên ngành thay đổi cấu trúc và hệ thể chế phù hợp, mạnh mẽ, Việt Nam sẽ trở thành một cực sáng tạo không chỉ trong khu vực mà mang tầm vóc toàn cầu. Đó là động lực thành côngtrong tương lai.
Phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tri thức và văn minh trí tuệ nhân tạo dẫn dắt sự phát triển công nghệ, giữ con người ở vị thế trung tâm trong kỷ nguyên máy móc - dữ liệu… nhằm phát triển nội lực dân tộc. Tất cả phải hướng tới và vun đắp con người trở thành người sáng tạo, kiến tạo, quốc gia phải làm chủ trong hệ giá trị toàn cầu. Đó là triết lý phát triển nền kinh tế tự cường - mở cửa - sáng tạo, như Hồ Chí Minh từng định hướng giá trị trụ cột và bảo đảm thực thi mục tiêu “Dân làm gốc”.
Về Văn hóa - hệ giá trị phát triển Việt Nam
Phát triển văn hóa thật sự trở thành sức mạnh mềm, sức mạnh dẫn dắt dân tộc. Trước hết, nắm lấy khoa học - công nghệ và chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế xanh, kinh tế số vì dân giàu, nước mạnh trên nền móng phát triển giáo dục - đào tạo tiên phong, hiện đại nhằm kiến tạo gương mặt, linh hồn và hệ điều tiết phát triển tương lai quốc gia, khẳng định sự phong phú và chiều sâu chủ thuyết Hồ Chí Minh.
Trên nền sức mạnh 40 năm đổi mới, chúng ta nắm lấy ba đột phá chiến lược, trước hết về thể chế, định vị và phát triển cơ bản nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tái cấu trúc hệ thống chính trị, cải cách nền hành chính quốc gia gắn với tinh giản bộ máy song hành với thanh lọc đội ngũ cán bộ, công chức, đi thẳng vào công nghệ cao, không ngừng đổi mới sáng tạo và số hóa… Với văn hóa soi đường và kiến tạo, kinh tế làm giá đỡ, với tinh thần “cầu đồng tôn dị”, phát triển xã hội đa dạng và thống nhất trên cơ sở bảo đảm lợi ích cá nhân thống nhất với lợi ích cộng đồng và lợi ích quốc gia làm tối thượng, lấy đồng thuận, bình đẳng, dân chủ là mẫu số chung giữ gìn và phát triển sự ổn định chính trị và xã hội. Không ổn định không có bất cứ sự phát triển nào như mong muốn.
Về Xã hội - con người Việt Nam thời đại mới
Đặt con người ở trung tâm mọi sự phát triển. Xây dựng Việt Nam giàu mạnh nghĩa là xây dựng người Việt Nam tự do, sáng tạo, nhân văn, bản sắc và bản lĩnh toàn cầu. Mọi sự phát triển quốc gia phải xoay quanh con người. Đây chính là động lực toàn diện với nhân tố căn bản và trung tâm là lợi ích (lợi ích vật chất và tinh thần, lợi ích cá nhân với cộng đồng, lợi ích cá nhân với lợi ích quốc gia….) thực hiện mục tiêu và sự phát triển của nền độc lập dân tộc thấm đẫm tinh thần tiến bộ và nhân văn; là thước đo sự kiên định, tính triệt để cách mạng về quyền con người bất khả xâm phạm gắn liền với quyền đất nước độc lập thiêng liêng và quyền tự quyết dân tộc vô giá Việt Nam; đồng thời, tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích chính nghĩa của các quốc gia dân tộc khác. Đó là chân lý và khát vọng nhân văn của thời đại.
Con người Việt Nam là hiện thân khát vọng của chủ thuyết Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên AI, hội nhập và toàn cầu hóa; có quyền được bảo đảm về giáo dục, y tế, công bằng xã hội, an sinh… Nhìn lại thế kỷ XX và nhìn tới tương lai, nếu dân tộc Việt Nam trong nền độc lập đó, và nhìn rộng ra ở khắp các quốc gia, mọi người Việt Nam, dù là ai, ở bất cứ đâu, nếu chưa được ấm no, tự do, hạnh phúc, thì nền độc lập ấy chẳng có nghĩa gì, như lời xác quyết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ kinh nghiệm xương máu của Việt Nam và thế giới, Hồ Chí Minh xác quyết rằng, đất nước muốn có độc lập, không có con đường nào khác, phải “đem sức ta mà giải phóng cho ta”, khi “một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”(11); và, đến lượt “mỗi một người dân phải hiểu: có tự lập mới độc lập, có tự cường mới tự do” với nguyên tắc: “Muốn người ta giúp cho, thì trước mình phải tự giúp lấy mình đã”(12).
Từ chủ thuyết Hồ Chí Minh, tiếp tục đặt con người - dân tộc - chế độ xã hội chủ nghĩa làm trung tâm, thống nhất giữa ý chí độc lập tự cường và khát vọng phát triển một cách thật sự xứng đáng. Đồng thời, phát triển hệ giá trị dân tộc, văn hóa và con người phù hợp với kỷ nguyên số và tương dung với hệ giá trị toàn cầu.
Về Đối ngoại - Việt Nam định vị chiến lược trong trật tự thế giới mới
Để kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, càng hội nhập toàn cầu càng phải giữ vững bản sắc dân tộc, giữ vững độc lập, chủ quyền, định vị Việt Nam trong thế giới đa cực với tư tưởng “làm bạn với tất cả”, “không gây thù oán với một ai” (13) nhằm mở rộng không gian phát triển của đất nước, trong thời đại ngày nay.
Đó là triết lý đối ngoại và hội nhập quốc tế Hồ Chí Minh. Hơn ai hết, Hồ Chí Minh kiên trì gìn giữ và phát triển một cách tự nhiên mối quan hệ khăng khít giữa độc lập dân tộc mình với tôn trọng và đấu tranh cho độc lập của các dân tộc khác; giữa độc lập dân tộc và hòa bình; giữa chủ nghĩa yêu nước thống nhất với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Người nói: “Không tách rời sợi dây liên hệ với thế giới”. Người lưu ý: “Độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường” luôn giữ vai trò quyết định, là nền tảng vững chắc để đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân thế giới, nhưng giữ gìn “bản sắc” mà “quá nhấn mạnh đặc điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh em, thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại”; đồng thời, nếu không “chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều”(14). Vì thế, Hồ Chí Minh luôn yêu cầu kết hợp nhuần nhuyễn sức mạnh nội lực và sức mạnh bên ngoài: “Tinh thần yêu nước là kiên quyết giữ gìn quyền độc lập, tự do và đất đai toàn vẹn của nước mình. Tinh thần quốc tế là đoàn kết với các nước bạn và nhân dân các nước khác để giữ gìn hòa bình thế giới, chống chính sách xâm lược và chính sách chiến tranh của đế quốc… Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với nhau”(15).
Tiếp tục hành trình chủ động hội nhập quốc tế 40 năm qua, hiện nay, càng đòi hỏi chúng ta về tầm nhìn chiến lược xa rộng và biện chứng; về sự trung thành và sáng tạo trong bảo vệ và thực thi những nguyên tắc; về sự nhạy bén, tỉnh táo, sâu sắc và toàn vẹn trong mỗi quyết sách; về tính nhân văn, linh hoạt và tinh tế trong mỗi bước đi… mà vấn đề cơ bản nhất, xuyên suốt và bao trùm mọi suy nghĩ, hành động là giữ vững vô điều kiện nguyên tắc: Bảo vệ bằng mọi giá nền độc lập, sự toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc và lợi ích vô giá của đất nước và hạnh phúc của Nhân dân; đồng thời, tôn trọng và bảo vệ quyền và lợi ích chân chính của tất cả các quốc gia dân tộc trên toàn thế giới phù hợp với pháp lý, thông lệ quốc tế.
Tôn trọng và tin cậy, chính nghĩa và lẽ phải, bình đẳng và công lý, hòa bình và phát triển nhằm cân bằng chiến lược tất cả các mối quan hệ quốc tế là quan điểm căn cốt về ngoại giao của Hồ Chí Minh mà Việt Nam kế thừa và phát triểntrong kỷ nguyên mới.
Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng mang tầm vóc nhân loại và tư tưởng của Người là không gian và con đường lý luận, hành động dẫn dắt Việt Nam phát triển vừa giữ bản sắc vừa mang tính toàn cầu.
Chủ thuyết của Người không chỉ là di sản lịch sử mà chính là nền tảng tư tưởng phát triển Việt Nam tương lai. Lịch sử Việt Nam và thế giới hơn 100 năm qua bảo chứng: “Hồ Chí Minh là một biểu tượng vì thành công trong sự nghiệp lãnh đạo một cách mẫu mực, toàn tâm, toàn ý phục vụ quyền lợi của người dân, làm nên lịch sử hiện đại và là một trong những “nhân vật cao quý nhất, đáng kính nhất của thời đại”(17).
Trước ngưỡng cửa thập kỷ thứ ba thế kỷ XXI, tiếp tục kiên định, kế thừa, phát triển, sáng tạo, hiện thực hóa chủ thuyết Hồ Chí Minh không chỉ là nhu cầu tất yếu đối với sự phát triển của đất nước Việt Nam mà còn góp phần xứng đáng phát triển tư tưởng thế giới.
(6)Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr. 56.
(7)Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr. 572.
(8)Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.168.
(9)Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 75.
(10)Hồ Chí Minh:Toàn tập, Sđd, 2000, t.1, tr. 466.
(11)Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr. 445.
(12)Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr. 320.
(13)Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t5, tr. 256.
(14)Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.11, tr. 97 – 98.
(15)Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr. 272.
(17)http://www.xaydungdang.org.vn/Home/Lyluan-Thuctien-Kinhnghiem/2011/3746/Chu-tich-Ho-Chi-Minh-Anh-hung-giai-phong-dan-toc.aspx
TS Nhị Lê - nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản