KIÊN CƯỜNG ĐẤU TRANH
Sinh ra trong một gia đình trung nông, năm 1960, ông Võ Quang Khanh (sinh năm 1939, khóm Khánh Hòa, phường Sa Đéc) thoát ly tham gia cách mạng, trở thành giao liên của lực lượng Y2 hợp pháp.
Sau 2 năm hoạt động, đến năm 1962, ông bị địch phát hiện và tổ chức khi đó buộc phải điều chuyển ông lên Sài Gòn. Tháng 9-1963, ông chính thức gia nhập quân giải phóng, công tác trong Đội biệt động số 65 thuộc Sài Gòn - Gia Định.
Đây là lực lượng hoạt động bí mật, đối mặt với muôn vàn hiểm nguy, nơi mà mỗi nhiệm vụ đều có thể phải trả giá bằng chính tính mạng.
Năm 1964, trong một lần được lệnh rút về học tập tại Chiến khu Kênh số 9 (Đức Hòa), trên đường di chuyển, ông bị chỉ điểm và rơi vào tay địch vào ngày 21-6-1964 tại khu vực Bình Thới - Chợ Lớn. Từ đây, chuỗi ngày tù đày khốc liệt bắt đầu.
Ông bị đưa về trại biệt kích 3 trên đường Khánh Hội để thẩm vấn. Suốt 2 tuần lễ tra khảo, địch không khai thác được thông tin gì. Sau đó, ông tiếp tục bị chuyển qua Tổng nha Cảnh sát ngụy, rồi Nhà lao Gia Định, rồi lại quay về Tổng nha Cảnh sát. Dù bị tra tấn dã man, ông vẫn kiên quyết giữ bí mật tổ chức. “Nó biết mình có tổ chức, nhưng không lần ra được manh mối”, ông nhớ lại.
Dù đôi mắt đã mờ theo năm tháng, ông Khanh vẫn bồi hồi khi xem lại những kỷ vật nhắc nhớ về quãng thời gian 8 năm kiên trung nơi “địa ngục trần gian” Côn Đảo.
Đến tháng 4-1965, địch hoàn tất hồ sơ, cáo buộc ông tội “phản nghịch và tàng trữ chiến cụ bất hợp pháp” - do khi bị bắt, ông mang theo 2 quả lựu đạn. Tháng 9-1965, tại tòa án quân sự đặc biệt, ông bị tuyên án 15 năm khổ sai.
Tháng 6-1966, ông bị đày ra Côn Đảo - nơi được mệnh danh là “địa ngục trần gian”. Tại đây, ông mang số tù C17771 và trải qua nhiều trại giam khác nhau; trong đó thời gian dài nhất ở trại 2, từ năm 1966 - 1973.
Mỗi lần nhắc lại, ông Võ Quang Khanh không giấu được xúc động: “Trong 8 năm bị giam cầm ở Côn Đảo, tôi đã nghĩ sẽ không còn có ngày về, nhưng tôi tin chắc rằng, nhất định cách mạng sẽ thành công”.
Những năm tháng ở Côn Đảo là chuỗi ngày sống giữa ranh giới sinh tử. “Có khi 2 năm trời không thấy mặt trời”, ông kể, giọng nghẹn lại. Những phòng giam chật hẹp, mỗi phòng hơn 40 người, thiếu ăn, thiếu nước, bệnh tật triền miên, địch dùng đủ mọi hình thức tra tấn: Đánh đập, cùm kẹp, biệt giam… Có những đợt, tù nhân bị còng chân hàng tháng trời, mỗi 10 người bị xích chung vào một thanh sắt.
Đặc biệt, vào cuối năm 1972, khi Mỹ tiến hành ném bom miền Bắc, chế độ giam giữ tại Côn Đảo trở nên hà khắc hơn bao giờ hết. “Nó còng liên tục gần 2 tháng, mỗi phòng gần 40 người, không ai cử động được”, ông nhớ lại. Trong hoàn cảnh ấy, các tù nhân vẫn kiên cường đấu tranh, tổ chức tuyệt thực đòi quyền sống. Có lần, ông cùng đồng đội tuyệt thực hơn một tháng mười ngày.
Cái chết luôn cận kề. “Trong phòng, đã có 10 người chết”, ông nói, ánh mắt xa xăm. Những người đồng chí, đồng đội lần lượt ngã xuống, nhiều đến mức ông không thể nhớ hết. Dẫu vậy, niềm tin vào cách mạng chưa bao giờ tắt. “Tôi tin chắc cách mạng sẽ toàn thắng”, ông chia sẻ.
CHỨNG NHÂN CỦA HÒA BÌNH
Dù bị kìm kẹp trong chốn lao tù khắc nghiệt, nhưng những luồng thông tin cách mạng vẫn âm thầm chảy qua hệ thống liên lạc bí mật. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời vào năm 1969, tin buồn nhanh chóng lan tỏa đến từng chi bộ trong ngục tù.
Huân chương và kỷ vật thời kháng chiến được ông Khanh trân trọng giữ gìn suốt hơn nửa thế kỷ qua.
Hiệp định Paris được ký kết ngày 27-1-1973 mở ra hy vọng cho hàng vạn tù nhân. Tuy nhiên, phải đến ngày 20-7-1973, ông mới được đưa về đất liền trên con tàu mang số hiệu 502.
Dù vậy, ông chưa được tự do ngay, mà tiếp tục bị giam tại trại Hố Nai. Đến ngày 25-2-1974, ông mới chính thức được trao trả tại sân bay Lộc Ninh.
Ngày trở về, ông không thể tự đi lại, phải có người dìu. Sau gần 8 năm tù đày, cơ thể ông kiệt quệ vì bệnh tật, sốt rét, thậm chí từng bị bại liệt. Sau thời gian an dưỡng, tháng 10-1974, ông trở lại quân ngũ, tham gia lực lượng bắn tỉa của Quân khu 7.
Những ngày cuối tháng 4-1975, ông cùng đơn vị hành quân trong mưa, vượt qua Hóc Môn, Bà Điểm, tiến về Sài Gòn. Ngày 30-4-1975, khi Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, đơn vị ông vẫn tiếp tục tiến quân, tiếp quản các vị trí trọng yếu.
Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục công tác trong Quân đội đến năm 1977 trước khi trở về quê hương Đồng Tháp làm việc trong lĩnh vực kinh tế. Rời chiến trường, cuộc đời ông lại bước sang một chặng đường mới với nhiều thử thách trong thời bình.
“Chiều hôm đó (30-4-1975), bà con ra ôm tụi chú, mừng rỡ lắm”, ông Võ Quang Khanh nhớ lại, giọng đầy xúc động. Khoảnh khắc ấy, mọi gian khổ, hy sinh dường như được đền đáp.
Trong thời gian giữ cương vị kế toán trưởng tại một đơn vị nhà nước, do những biến động trong hoạt động của công ty, ông phải chịu trách nhiệm liên đới vì những thiếu sót trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Tuy vậy, sau quá trình xem xét, ông sớm được trở lại công tác và tiếp tục cống hiến.
Sau nhiều năm công tác, ông trở về Sa Đéc sinh sống. Dù tuổi đã cao, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội tại địa phương, từng đảm nhiệm công tác thanh tra, tham gia Hội Người cao tuổi và giữ vai trò Chi hội trưởng.
Dù tuổi cao sức yếu, mang theo những di chứng chiến tranh nhưng ông vẫn luôn giữ tinh thần lạc quan, sống trách nhiệm và gần gũi với mọi người.
Ông lập gia đình muộn, vào năm 1977, khi đã bước qua những năm tháng chiến tranh. Vợ chồng ông có 4 người con. “Lúc đó, mình nghĩ chết nay sống mai, không dám nghĩ đến chuyện gia đình”, ông chia sẻ.
Mỗi dịp 30-4, ký ức lại ùa về. “Không có gì hạnh phúc hơn khi mình còn sống để chứng kiến đất nước đổi thay”, ông nói. Sau hơn nửa thế kỷ, đất nước có những bước phát triển mạnh mẽ, nhưng với ông, giá trị lớn nhất vẫn là hòa bình, là độc lập, là những hy sinh không vô nghĩa của bao thế hệ.
Ở tuổi 87, ông Khanh hiểu rằng mình là một trong số ít người còn sống để kể lại những câu chuyện năm xưa. “Mong đất nước mình ngày càng phát triển, phồn vinh, để xứng đáng với những gì đã hy sinh”, ông gửi gắm.
Những ký ức của ông không chỉ là câu chuyện cá nhân, mà còn là một phần lịch sử - nhắc nhớ về những năm tháng gian khổ, về ý chí kiên cường và niềm tin sắt son của những người con đất Việt. Đó là ký ức không thể quên; để hôm nay và mai sau, mỗi chúng ta thêm trân trọng giá trị của hòa bình, độc lập và tự do.
MỸ NHÂN