Sau mức tăng nhanh trong quý I/2026, ngành ngân hàng ghi nhận làn sóng giảm lãi suất huy động vào tháng 4 sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Động thái này cho thấy sự đồng thuận của hệ thống ngân hàng trong việc thực hiện chủ trương kéo giảm mặt bằng lãi suất để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Dữ liệu khảo sát của MBS cho thấy đến cuối tháng 4, lãi suất huy động kỳ hạn dưới 12 tháng cao nhất trên thị trường ở mức 8,7%/năm. Với kỳ hạn 12 tháng, Vikki Bank và Nam A Bank là hai ngân hàng niêm yết mức lãi suất cao nhất, lên tới 8,8%/năm.
Trong khi đó, lãi suất huy động bình quân kỳ hạn 12 tháng của nhóm ngân hàng hạng 1 vào cuối tháng 4 ở mức 8,16%/năm, giảm 25 điểm cơ bản so với thời điểm trước chỉ đạo của NHNN. Nhóm ngân hàng hạng 2 ghi nhận mức bình quân 8,45%/năm, giảm 29 điểm cơ bản.
Chứng khoán MBS nhận định dù các nhà băng đã đều đồng loạt thực hiện giảm lãi suất trong tháng 4, song hiện lãi suất huy động vẫn neo ở mức cao do mặt bằng lãi suất đã tăng tương đối nhiều trong quý I.
Tại cuối tháng 4, lãi suất huy động bình quân kỳ hạn 12 tháng của toàn hệ thống ngân hàng ở mức 8,31%/năm, tăng 2,53 điểm % so với đầu năm.
Trong bối cảnh áp lực thanh khoản và nhiều yếu tố tác động, Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng điều hành lãi suất sẽ tiếp tục là “bài toán cân não” trong thời gian tới.
Theo VDSC, việc sửa đổi Thông tư 22/2019/TT-NHNN theo hướng cho phép tính một phần tiền gửi Kho bạc Nhà nước vào tỷ lệ dư nợ cho vay trên huy động (LDR) là giải pháp khả dĩ nhất ở thời điểm hiện tại và thực tế đã được triển khai.
Tuy nhiên, quy mô nguồn tiền gửi Kho bạc được tính vào LDR vẫn khá hạn chế, chủ yếu giúp hạ nhiệt tạm thời lãi suất ngắn hạn, trong khi không thể hỗ trợ cân đối cho nhu cầu tín dụng trung và dài hạn.
Bên cạnh đó, các kênh huy động vốn trung - dài hạn như chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu ngân hàng hiện vẫn duy trì mức lãi suất cao, kéo theo chi phí huy động vốn của các ngân hàng tăng mạnh trong bối cảnh huy động từ thị trường 1 còn khó khăn nhưng nhu cầu tín dụng vẫn tăng.
VDSC cũng nhấn mạnh yếu tố độ trễ của chính sách tiền tệ. Nhìn lại giai đoạn 2023, sau khi mặt bằng lãi suất tăng cao, phải mất khoảng 6 tháng kể từ khi xuất hiện các biện pháp nới lỏng nội sinh như nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc vào nguồn huy động và các biện pháp nới lỏng ngoại sinh như mua USD, lãi suất dài hạn mới giảm trở lại vùng cuối năm 2021.
Nhìn chung, trong điều kiện hiện nay, khi dòng vốn USD vào Việt Nam chưa đáng kể, cùng với việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) chưa tăng nhưng cũng chưa giảm lãi suất, VDSC cho rằng mặt bằng lãi suất trong nước khó có khả năng hạ nhiệt trong ít nhất 3 tháng tới.
"Với lãi suất FFR (lãi suất quỹ liên bang) duy trì tại mức 3,5 -3,75% đòi hỏi mức độ swap (chênh lệch hoán đổi) 2 -3% thì chắc chắn nền lãi suất không thể hạ được trong 3 tháng tới", theo VDSC.
Cũng đề cập đến áp lực thanh khoản, VIS Rating chỉ ra rằng tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, với gần một nửa số ngân hàng được khảo sát ghi nhận sụt giảm tiền gửi, bao gồm cả các ngân hàng lớn như BIDV, MB, Techcombank, ACB và các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ như TPBank, Saigonbank, VietBank.
Tỷ lệ CASA trên tổng dư nợ cho vay toàn ngành tính đến hết quý I đã giảm 2 điểm % so với quý trước xuống còn 18%, phản ánh xu hướng sụt giảm tiền gửi ở cả nhóm khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Một số ngân hàng ghi nhận suy giảm CASA đáng chú ý gồm Techcombank, ACB, MB và TPBank.
Theo VIS Rating, tình trạng cạnh tranh huy động mang tính toàn hệ thống đang khiến nhiều ngân hàng phải phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn liên ngân hàng ngắn hạn.
Ngoài ra, các quy định thanh khoản chặt chẽ hơn như CDR, LCR, NSFR hay tỷ lệ đòn bẩy dù có tác động tích cực trong dài hạn nhưng trước mắt sẽ tiếp tục làm gia tăng áp lực huy động vốn, khiến chi phí vốn duy trì ở mức cao, có nguy cơ tạo sức ép lên lợi nhuận của ngành ngân hàng.
Trang Mai