Nữ hướng dẫn viên có những phát ngôn sai lầm về nhà Tây Sơn trong lúc làm nhiệm vụ hướng dẫn cho du khách tham quan tại di tích Lam Kinh. Ảnh: Cắt từ clip.
Một clip dài 33 giây ghi lại lời thuyết minh chưa chính xác tại khu di tích Lam Kinh (Thanh Hóa) lan truyền trên mạng xã hội khiến hướng dẫn viên bị đình chỉ. Sự việc vừa được Ban quản lý Di sản thành nhà Hồ và các di tích trọng điểm tỉnh Thanh Hóa xác minh vào ngày 4/1.
Sự việc khiến nhiều người có nhu cầu tìm hiểu về Lam Kinh cũng như các di sản lớn của vùng đất Thanh Hóa. Trong hai cuốn sách Khu di tích Lam Kinh (Nguyễn Văn Hảo) và Thành Nhà Hồ (do nhà nghiên cứu Tống Trung Tín chủ biên, thực hiện theo chỉ đạo của UBND tỉnh Thanh Hóa), hai địa điểm này có giá trị lịch sử, kiến trúc và văn hóa quan trọng trong dòng chảy lịch sử Việt Nam.
Nơi phát tích của nhà Hậu Lê
Lam Kinh nằm cách trung tâm TP Thanh Hóa hơn 50 km về phía tây bắc, trên địa bàn xã Lam Sơn (tỉnh Thanh Hóa). Đây là quê hương vua Lê Lợi, nơi ông cho dựng điện miếu sau khi lên ngôi hoàng đế và đổi tên vùng đất này thành Tây Kinh. Cùng Đông Kinh (Thăng Long), công trình này trở thành kinh đô thứ hai của nhà Hậu Lê (1428-1789).
Toàn bộ di tích trải dài trên diện tích khoảng 200 ha, trong đó phần không gian trung tâm rộng gần 30 ha gồm thành điện, lăng mộ và các di tích kiến trúc chính. Cấu trúc khu thành điện Lam Kinh được thiết kế theo hình chữ "Vương" trong tiếng Hán. Tây Kinh gối đầu lên núi Dầu, nhìn ra sông Chu, hai bên là rừng Phú Lâm và dãy núi Hương.
Khu di tích quốc gia đặc biệt Lam Kinh là nơi người anh hùng Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa chống quân Minh xâm lược. Ảnh: Lê Hiếu.
Nơi đây còn là trung tâm sơn lăng của triều Lê, nơi an táng nhiều vị vua và hoàng hậu giai đoạn Lê sơ như Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Thánh Tông, Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông. Các lăng đều được quy hoạch theo thế đất phong thủy, bố cục chỉnh tề và mang đậm nét kiến trúc Nho giáo.
Khu thành điện hiện để lại dấu tích rõ ràng qua hệ thống nền móng và vật liệu khảo cổ. Ngọ môn có nền rộng 11 m, dài hơn 14 m, có ba cửa ra vào nối với sân rồng có diện tích gần 3.540 m2. Khu chính điện gồm ba tòa lớn được xây trên nền cao 1,8 m so với sân, có mặt bằng hình chữ Công.
Lam Kinh cũng lưu giữ nhiều chi tiết mang hơi thở đời sống. Trước Ngọ môn khoảng 100 m còn dấu vết cổng thành, sông Ngọc và cầu Tiên Loan Kiều bắc qua. Gần đó là giếng cổ từng được trồng sen, giữ nước mát trong mùa hè.
Trái tim của Lam Kinh là Vĩnh Lăng - nơi an táng vua Lê Thái Tổ. Lăng được đặt ở thế đất "hổ phục rồng chầu", đối diện lại có sông Chu làm "bạch hổ". Tấm bia Vĩnh Lăng ở phía tây nam di tích được Nguyễn Trãi soạn văn bia, khắc trên phiến đá trầm tích biển nguyên khối, đặt trên lưng rùa đá lớn. Đây là một trong những minh chứng điển hình về văn hóa chính trị và tư tưởng trung hưng thời Lê sơ.
Dấu tích của cuộc cải cách nhà Hồ
Cách Lam Kinh khoảng 30 km là di tích thành nhà Hồ (còn gọi là Tây Đô) được Hồ Quý Ly cho xây dựng vào năm 1397. Công trình hoàn thành trong khoảng ba tháng, là kinh đô của nhà Hồ (1400-1407). Trong sách Thành Nhà Hồ, việc lựa chọn Thanh Hóa làm nơi dựng đô được đặt trong một tầm nhìn chiến lược dài hạn.
Học giả thế kỷ XIX Đặng Xuân Bảng từng viết: “Nói về mặt đô hội thì thành nhà Hồ không rộng rãi bằng phẳng bằng Thăng Long, mà nói về mặt hình thế thì Thăng Long không hiểm cố bằng Thanh Hóa. Cho nên lập đô dựng nước, ngoài Thăng Long ra có lẽ không đâu hợp bằng Thanh Hóa”.
Thành nhà Hồ được xây dựng vào năm 1397 và là kinh đô của nhà Hồ (1400-1407). Ảnh: H.Đ.
Thành được quy hoạch theo mô hình kinh đô phương Đông, gồm Hoàng thành bằng đá và La thành bằng đất. Hoàng thành có mặt bằng gần vuông, tổng chiều dài tường hơn 3.500 m, mở bốn cửa theo bốn hướng. Các cửa xây vòm cuốn bằng đá hình múi bưởi, trong đó cửa Nam là cửa chính với ba lối vào.
Điểm đặc biệt nhất của di tích là kỹ thuật xây dựng đá lớn. Tường thành được ghép từ các khối đá vôi nặng từ 10 đến trên 26 tấn, xếp khít mà không dùng chất kết dính. Đây là tòa Hoàng thành bằng đá duy nhất còn lại trong lịch sử kiến trúc Việt Nam.
Sách Thành Nhà Hồ nhấn mạnh giá trị tiếp biến trong kiến trúc và nghệ thuật: “Rõ ràng nối tiếp Thăng Long và vươn lên phù hợp với xu thế phát triển mới của thời đại, thành nhà Hồ đã thể hiện sự giao lưu, trao đổi mạnh mẽ với các giá trị văn hóa với các nước trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á…”. Tác giả cũng nhấn mạnh “sự nổi bật của tòa Hoàng thành đá với kỹ thuật xây dựng đá lớn, hiện nay chưa thấy có ở các kinh đô khác trong khu vực”.
Sau khi nhà Hồ thất thủ năm 1407, thành không mất đi vai trò lịch sử. Dưới một số thời, nơi đây tiếp tục được sử dụng như một pháo đài quân sự.
Đức An