Cặp đôi diễn viên Xuân Phúc - Lê Trần Thanh Tâm đảm nhận vai Chử Đồng Tử - Tiên Dung trong phim “Huyền tình Dạ Trạch”. Ảnh: Đoàn làm phim
Từ sức bật doanh thu phòng vé Việt
Trong một thời gian dài, phim lịch sử Việt Nam thường gắn với hình ảnh khô cứng, nặng tính minh họa và ít tạo được sức hút phòng vé. Nhiều dự án được đầu tư công phu nhưng không tìm được khán giả, khiến thể loại này dần bị thu hẹp không gian tồn tại. Tuy nhiên, bức tranh ấy đang thay đổi khi các nhà làm phim bắt đầu nhìn lịch sử như một “chất liệu sống”, có thể đối thoại với hiện tại thay vì chỉ phục vụ mục tiêu tái hiện.
Thành công của các tác phẩm như “Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối” với doanh thu hơn 160 tỷ đồng, “Tử chiến trên không” đạt xấp xỉ 252 tỷ đồng và đặc biệt là “Mưa đỏ” vượt mốc 700 tỷ đồng đã trở thành những minh chứng thuyết phục cho sức bật của phim Việt tại phòng vé. Những con số này đóng góp quan trọng vào doanh thu hơn 3.700 tỷ đồng của phim nội, trong bức tranh chung hơn 6.100 tỷ đồng doanh thu toàn thị trường. Không chỉ đạt thành công về mặt thương mại, các bộ phim còn cho thấy sự thay đổi rõ rệt trong thị hiếu khán giả, nhất là giới trẻ, những người sẵn sàng đón nhận đề tài lịch sử nếu câu chuyện được kể chân thực, giàu cảm xúc và tiếp cận bằng ngôn ngữ điện ảnh hiện đại. Chính “cú hích” này đang tạo nền tảng tâm lý thuận lợi, mở ra dư địa phát triển và kỳ vọng mới cho các dự án lịch sử - huyền sử nối tiếp.
Việc chọn thời điểm ra mắt đúng dịp mùa Valentine cũng cho thấy tư duy phát hành khác biệt. Thay vì gắn lịch sử với những dịp kỷ niệm quen thuộc, “Huyền tình Dạ Trạch” thử nghiệm đặt quá khứ trong không gian cảm xúc rất hiện đại. Lịch sử, theo cách đó, không chỉ để chiêm ngưỡng hay tưởng niệm, mà còn có thể đồng hành cùng những khoảnh khắc đời sống hôm nay, chạm tới cảm xúc của khán giả trẻ bằng sự mềm mại và tinh tế.
Đáng chú ý, bộ phim là một trong số ít tác phẩm điện ảnh Việt khắc họa hình ảnh Vua Hùng thứ 18 với tinh thần tôn trọng văn hóa bản địa. Thay vì sa đà vào thần thánh hóa hay minh họa đơn thuần, phim lựa chọn tái hiện nhân vật trong mối quan hệ với cộng đồng và không gian văn hóa thời đại. Chính cách tiếp cận này giúp Huyền tình Dạ Trạch không chỉ kể một câu chuyện, mà mở ra một lát cắt về đời sống tinh thần của người Việt cổ.
Bộ phim tái hiện nhiều phong tục, nghi lễ truyền thống của người Việt. Ảnh: Đoàn làm phim
Chạm đến cảm xúc khán giả
Hiện nay, dòng phim huyền sử cũng đang được tiếp sức bởi những dự án có tham vọng lớn hơn về quy mô và thể loại. ‘Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh”, dự kiến ra mắt ngày 28/8, là một ví dụ. Lấy bối cảnh 12 năm sau khi Đại Cồ Việt giành độc lập, bộ phim khai thác những biến động lịch sử xoay quanh Đinh Tiên Hoàng, kết hợp yếu tố huyền bí, tâm linh và hành động. Nhân vật thầy mo do NSND Tự Long đảm nhận trở thành điểm nhấn, đại diện cho tầng sâu văn hóa dân gian trong mạch kể.
Việc các dự án huyền sử ngày càng được đầu tư cho thấy sự thay đổi trong tư duy làm phim. Theo chia sẻ từ ê-kíp, quá trình chuẩn bị cho “Hộ linh tráng sĩ: Bí ẩn mộ vua Đinh” kéo dài với việc nghiên cứu, sưu tầm 20.000 tư liệu, hiện vật và hình ảnh khảo cổ, cùng nhiều buổi tọa đàm, tham vấn chuyên gia nhằm đảm bảo tính xác thực. Dù dòng phim này từng vấp phải tranh cãi về kỹ xảo, bối cảnh hay mức độ chính xác lịch sử, nhưng chính những bài học ấy tạo áp lực tích cực để các dự án mới buộc phải làm kỹ hơn, chỉn chu hơn.
Ở góc độ thị trường, sự khởi sắc của phim huyền sử diễn ra trong bối cảnh điện ảnh Việt đang trưởng thành rõ nét. Doanh thu phim nội tăng, kỹ thuật, kỹ xảo và âm thanh được cải thiện, cùng sự tham gia ngày càng chủ động của khu vực tư nhân đã tạo thêm nguồn lực cho những dự án đòi hỏi đầu tư lớn. Điều này mở ra cơ hội thực sự cho các thể loại từng bị xem là kén khán giả.
Dẫu vậy, thách thức vẫn còn. Với phim huyền sử, ranh giới giữa sáng tạo và lịch sử luôn mong manh. Khán giả ngày nay không chỉ xem phim để giải trí, mà còn kỳ vọng được “sống cùng lịch sử”, cảm nhận được hồn cốt của một thời đại. Điều đó đòi hỏi kịch bản chắc tay, nghiên cứu nghiêm túc và một cách kể đủ tinh tế để dung hòa giữa tính điện ảnh và nền tảng văn hóa.
Mộc Miên