Trong tập hợp Tứ bất tử của người Việt, Chử Đồng Tử là trường hợp duy nhất có xuất thân là người bình thường (người trần mắt thịt), lại còn nghèo đến mức không thể nghèo hơn.
Tình tiết hai cha con chung nhau một chiếc khố là biểu tượng cho sự cùng khổ của kiếp người.
"Huyền tình Dạ Trạch" - bộ phim đưa câu chuyện tình Chử Đồng Tử - Tiên Dung lên màn ảnh rộng
Người thường mà phi thường
Theo lẽ thường, Chử Đồng Tử hoàn toàn có thể thừa kế gia sản cực tiểu đó, nhưng ông đã bày tỏ tấm lòng cũng như bản lĩnh làm người trong lời khóc cha: "Ôi cha ơi, ôi cha ơi, cha sinh ra con, công lao như trời biển, nay gia đình nghèo khó không biết lấy gì để báo đáp.
Con còn sống ở trên đời, lòng trời không phụ, thì quần áo tất sẽ có, còn cha ta khi còn sống đã là người không có áo quần, nay đã tạ thế lẽ nào lại làm quỷ không có quần áo”. (Theo bộ ngọc phả được Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính, Thượng thư Bộ Lễ chỉnh lý vào năm Hồng Phúc nguyên niên - 1572, lưu tại đình làng Ngân Hạnh ở xã Hoàn Long, huyện Yên Mỹ).
Tình tiết khởi đầu cho chuyện tình Chử Đồng Tử - Tiên Dung cũng là độc nhất vô nhị. Hai người ở hai đẳng cấp xa nhau đến cực đại lại gặp nhau trong hoàn cảnh tuyệt đối bình đẳng.
Sự trần trụi của cả hai ngay lần đầu diện kiến là một ẩn dụ cho sự bình đẳng vốn có của con người khi đến cũng như khi đi khỏi đời sống này. Trong quá trình sống, do hoàn cảnh, nhân duyên mà chúng ta khoác lên những lớp áo khác nhau mà thôi.
Tình yêu của hai người dựa trên sự bình đẳng cơ bản không phân biệt đó. Và từ việc công nhận, chấp nhận nhau như vốn có, họ đã cùng nhau đạt tới những đỉnh cao tuyệt đích, phi thường của đời người.
Dường như chính tình yêu đích thực do trời định đã giúp họ làm nên nghiệp lớn, siêu việt khỏi tư duy và nhận thức thông thường.
Tình tiết khởi đầu cho chuyện tình Chử Đồng Tử - Tiên Dung cũng là độc nhất vô nhị. Hai người ở hai đẳng cấp xa nhau đến cực đại lại gặp nhau trong hoàn cảnh tuyệt đối bình đẳng
Chử Đồng Tử trải qua đủ mọi cung bậc thăng trầm đến cực độ trong một đời người và trở thành vị thánh dân dã nhất trong Bộ Tứ. Câu chuyện đời ông cho thấy một người hiếu đạo, hiền tài có thể phát triển đến mức nào khi gặp đúng hoàn cảnh.
Mặc dù nghèo mạt đến mức không có nổi manh khố che thân, Chử Đồng Tử vẫn có cách thích nghi, tự nuôi sống bản thân. Sau này ông cũng không lệ thuộc vào đời sống vật chất mà một lòng cầu đạo, dẫn dắt vợ theo.
Theo bản truyện trong Lĩnh nam chích quái thì thầy của Chử Đồng Tử là nhà sư Phật Quang ở núi Quỳnh Viên truyền đạo. Sau đó Chử Đồng Tử về truyền lại cho Tiên Dung. Do đó cả hai được ghi nhận như những Phật tử ở buổi đầu đánh dấu sự truyền bá của đạo Phật vào Việt Nam.
Tuy nhiên đường đạo của của Chử Đồng Tử và Tiên Dung dường như vẫn là sự kết hợp giữa tiên và Phật. Sau này Chử Đồng Tử đã có vài lần hiển thánh để giúp Triệu Quang Phục cũng như Nguyễn Trãi làm nên nghiệp lớn. Từ đó người Việt đã tôn xưng và công nhận ông như một trong những vị thánh bảo hộ trường tồn cùng dân tộc.
Duyên kỳ ngộ và hành trình song đôi của Tiên Dung - Chử Đồng Tử là biểu tượng của tiêu chí “tốt đời đẹp đạo”. Khi hợp nhất cùng nhau, họ đạt tới những gì đáng mơ ước nhất của đời người. Song họ không sống cho riêng mình mà luôn nghĩ cho sự yên ấm của muôn dân.
Trong Kinh tri Chử Đồng Tử vẫn lưu truyền ở vùng Khoái Châu - Yên Mỹ, dân gian phong cho Chử Đồng Tử là “Trung hiếu thần tiên thượng đẳng thần”, rồi “Chí đức đại thiên tôn ngọc bệ hạ”.
Do sau khi học được thần thông, Chử Đồng Tử đã đi khắp nơi chữa bệnh cứu người.
Nhà nghiên cứu Lê Văn Giang cho biết, theo thần tích ở đền Dạ Trạch, khi về đến quê hương, Chử Đồng Tử đã cứu sống dân làng Ông Đình qua cơn dịch bệnh.
Còn trong truyền ngôn dân gian làng Từ Hồ (Yên Phú, Yên Mỹ), Chử Đồng Tử không những cứu sống người dân, mà còn mở yến tiệc khao thưởng cả làng. Hiện đầu làng Từ Hồ vẫn còn Bãi Yến ghi dấu sự tích ấy.
Cõi tiên không phạm cõi trần
Theo huyền tích, Chử Đồng Tử nhờ chiếc nón và cây gậy mà sư phụ trao cho trong một đêm đã dựng nên cả một “đế chế”. Như vậy có thể hiểu, đức thánh đã kiến tạo được một một xã hội lý tưởng, một utopia - địa đàng trần gian vận hành theo cơ chế thần tiên vượt khỏi khuôn khổ thời bấy giờ.
Và khi thấy không thể dung hợp với thực tại thì họ chọn rời đi chứ không gây tổn hại cho nhân quần. Vì với tài lực (tài phép) đó, Chử Đồng Tử và Tiên Dung hoàn toàn có thể khuất phục vua cha nhưng họ đã chọn giữ trọn hiếu trung.
Truyện nôm Chử Đồng Tử lưu truyền trong dân gian diễn tả tâm lý của Tiên Dung và phu quân lúc này:
Chống lại cha ắt đời mai mỉa
Còn lưu truyền hậu thế ra sao
Hai người bàn bạc thấp cao
Thôi đành lướt sóng đi vào cõi tiên…
Như thế, cõi phàm đã lỡ mất cơ hội được sống chung và giao lưu học hỏi từ cõi tiên. Cũng là một sự đáng tiếc vậy!
Truyền thuyết "Chử Đồng Tử - Tiên Dung" thể hiện khát vọng của con người Việt về một đời sống “tốt đời, đẹp đạo”, nơi tình yêu nâng con người vượt lên nghịch cảnh, nơi quyền lực không khuất phục được đạo lý
Hành động duy nhất vượt lễ giáo, khuôn khổ thời bấy giờ mà họ đã hoàn mãn là đến với nhau bất chấp đẳng cấp. Xuất phát điểm, Tiên Dung vốn đã là người thoát tục, hướng thượng, chọn ngao du sơn thủy, tìm hiểu thế giới hơn là phải bó buộc vào khuôn khổ gia đình.
Bà không định kết hôn cho đến khi gặp duyên trời định. Chử Đồng Tử khi đó cũng giống như đã trả hết nợ trần ai (nhà cháy, mồ côi bố mẹ, trên người không còn nổi manh khố…).
Dường như mối duyên kỳ ngộ chính là mấu chốt quyết định việc họ đến với cõi trần. Nói cách khác, mục đích giáng phàm của Chử Đồng Từ và Tiên Dung là để dệt nên chuyện tình vượt không gian, thời gian.
Mối tình Chử Đồng Tử - Tiên Dung lý tưởng ở chỗ cả hai đều nâng nhau lên tới tuyệt đích của đời người. Họ đồng hành để làm nên đại nghiệp, đại sự chứ không hề sa vào những bi lụy thường tình.
Như thần phả do Nguyễn Bính soạn đầu thế kỷ XVI kể, khi cả hai có duyên gặp nàng Tiên Sa trên đường chu du, chính Tiên Dung là người tác hợp để mỹ nhân này trở thành vợ hai của chồng mình.
Tây Sa hay còn gọi là Tiên nữ Tây cung giỏi nghề thuốc, được phong là Mẫu y thiên hạ. Thần tích ở đền Yên Vĩnh (xã Dạ Trạch, Khoái Châu) kể: “Ba người cắm gậy xuống đất, đội nón lên trên, tự nhiên biến thành lâu đài, thành thị, của cải hàng hóa. Từ ấy đặt tên là bãi Tự Nhiên…”
Chử Đồng Tử tuy đã đắc đạo, đã thuộc về tiên giới nhưng vẫn quay lại phù trợ hạ giới.
Thể hiện qua lần tặng vuốt rồng cho Triệu Quang Phục đuổi giặc Lương và sau này lên làm vua, hay báo mộng cho Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn trên đường đi tìm minh chủ đến đền Đa Hòa cầu khấn rằng Lê Lợi đã tụ nghĩa Lam Sơn và tương lai sẽ lên làm vua…
Truyền thuyết còn ghi vợ chồng Chử Đồng Tử bằng tài phép cùng cây gậy thần đã cứu hàng trăm dân làng bị bệnh dịch và dạy dân cấy lúa, nuôi tằm dệt vải…
Điểmhành hương của tình nhân
Với thần tích và những công trạng nổi bật, thánh Chử Đồng Tử được coi là Chử Đạo Tổ. Được suy tôn là tổ của các nghề nghề trồng lúa, chăn tằm, nghề thuốc nam, nghề chài lưới, nghề đi buôn… Nhưng không thể phủ nhận vị trí nổi bật của ông trong huyền sử Việt như vị thánh của lòng hiếu thảo và tình yêu.
Chả thế mà đền Đa Hòa ở Khoái Châu thờ Chử Đồng Tử và nhị vị phu nhân còn được gọi là “đền thờ tình yêu”. Đền do tiến sĩ Chu Mạnh Trinh vận động xây cất từ năm 1894 trên nền một ngôi đền cổ tương truyền được dựng lên để đánh dấu nơi Chử Đồng Tử lần đầu diện kiến Tiên Dung.
Tương truyền nếu ai muốn tìm ý trung nhân hoặc các cặp đôi muốn gắn bó trọn đời hoặc đang gặp trục trặc muốn hàn gắn… về đây khấn nguyện sẽ được như ý.
Hằng năm, sau lễ rước nước được tổ chức vào tháng Giêng, người dân nơi đây lại tiến hành những trò chơi dân gian. Đặc biệt không thể thiếu màn diễn tái hiện cảnh Chử Đồng Tử gặp Tiên Dung hay cảnh Tiên Dung tác thành cho chồng với tiên nữ Tây Sa.
Chử Đồng Tử - Tiên Dung đã để lại cho văn hóa Việt một biểu tượng hiếm có: tình yêu gắn liền với hiếu đạo, tự do gắn liền với trách nhiệm, siêu thoát nhưng không lìa bỏ nhân gian
Từ một người con nghèo tận cùng của phận người đến bậc thánh siêu việt, từ một cuộc gặp gỡ trần trụi đến một hành trình tình yêu vượt mọi khuôn thước, Chử Đồng Tử - Tiên Dung đã để lại cho văn hóa Việt một biểu tượng hiếm có: tình yêu gắn liền với hiếu đạo, tự do gắn liền với trách nhiệm, siêu thoát nhưng không lìa bỏ nhân gian.
Truyền thuyết ấy không chỉ kể về phép màu, mà sâu xa hơn là khát vọng của con người Việt về một đời sống “tốt đời, đẹp đạo”, nơi tình yêu nâng con người vượt lên nghịch cảnh, nơi quyền lực không khuất phục được đạo lý, và nơi sự ra đi cũng là một cách giữ gìn hòa khí cho cõi trần.
Qua bao thế kỷ, câu chuyện Chử Đồng Tử - Tiên Dung vẫn lặng lẽ chảy trong mạch nguồn văn hóa dân tộc, như một lời nhắc nhở bền bỉ rằng: điều làm nên sự bất tử không phải xuất thân hay quyền thế, mà chính là tình yêu, lòng hiếu thảo và sự lựa chọn sống vì muôn người.
HẠNH AN