Lần theo những vỉa tầng lịch sử - văn hóa làng Nhuận Thạch

Lần theo những vỉa tầng lịch sử - văn hóa làng Nhuận Thạch
một giờ trướcBài gốc
Tam quan dẫn vào khu đền thờ và lăng mộ Phòng ngự sứ Thiều Thốn.
Cùng với sự vận động và phát triển, từ những “kẻ”, “xá”, “trang ấp - lộc điền”..., nhiều ngôi làng xứ Thanh đã định danh trong lịch sử dân tộc những dấu ấn đậm nét. Trong đó, làng Nhuận Thạch được biết đến là vùng đất có cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, bề dày lịch sử, lắng đọng tinh hoa văn hóa ngàn năm. Theo bài viết “Không gian địa hành chính - văn hóa và những tư liệu về Thiều Thốn trên vùng đất quê Thanh”, nhà nghiên cứu Phạm Tấn khẳng định: “Làng Nhuận Thạch, cùng với làng Triệu Xá, “là vùng đất cổ hết sức đặc biệt ở vùng hạ lưu sông Mã, sông Chu”. Hai địa danh này cách nhau không xa nhưng là không gian lịch sử - văn hóa đặc sắc với hàng loạt di chỉ khảo cổ học phát triển từ thấp đến cao như: núi Đọ, núi Nuông (đá cũ sơ kỳ), Đông Khối (hậu kỳ đá mới) đến rất nhiều di chỉ từ sơ kỳ đến hậu kỳ kim khí như di chỉ Đông Sơn, Thiệu Dương, Đông Khối, núi Tràn...”.
Trong đó, hai ngọn núi Bạch Thạch, núi Đào tựa hồ như nét chấm phá cho bức tranh phong cảnh làng quê Nhuận Thạch thêm phần ấn tượng. Riêng ngọn núi Bạch Thạch được ghi chép, miêu tả chi tiết trong nhiều thư tịch cổ. Cuốn sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn có những dòng khái quát: “Núi Bạch Thạch ở xã Thọ Sơn... Núi có 2 ngọn, chất đá cứng rắn, sắc đá trắng tinh, nên gọi là Bạch Thạch, dưới núi là mộ Thiều Thốn, người bản xã làm Phòng ngự sứ Lạng Giang đời Trần. Nay trong xã có đền thờ rất thiêng, nên đá núi tuy đẹp mà không ai dám lấy”.
Đặc biệt, tại khu vực quanh hai ngọn núi đá này, các nhà khảo cổ đã phát hiện hai di chỉ khảo cổ học là Đồng Vưng, Đồng Ngầm. Từ năm 1975, nơi này bắt đầu được tiến hành đào thám sát, khai quật. Với kết quả thu nhận được thông qua các cuộc thám sát, khai quật, các nhà nghiên cứu, khảo cổ học xác định: Di tích khảo cổ học này có 5 giai đoạn văn hóa phát triển liên tục, từ Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun - Đông Sơn điển hình và sau Đông Sơn. Từ sâu trong lòng đất, những vỉa tầng văn hóa dần hiển lộ như minh chứng sinh động về bề dày lịch sử, sức sống của vùng đất này qua hàng nghìn năm.
Không chỉ có cảnh sắc thiên nhiên thanh bình, có những di chỉ khảo cổ học thời kỳ Hùng Vương dựng nước, làng Nhuận Thạch còn được biết đến là quê hương của Phòng ngự sứ Thiều Thốn (1326-1380), nhân vật chí tiêu biểu của xứ Thanh. Ông có nhiều công lao phò vua giúp nước nên được vua Trần ban phong là “khai quốc công thần, phụ quốc Thượng tướng quân, thượng tể kiêm Trưởng kim ngô vệ” và gả con gái là công chúa Trần Thị Ngọc Chiêu cho ông làm vợ.
Tài năng, công lao của ông được phản ánh sâu sắc trong nội dung văn bia “Đông Sơn huyện Thiều Thốn từ bi” (Bia đền thờ Thiều Thốn huyện Đông Sơn) do Phủ liêu bồi tụng tham hộ quốc gia sự vụ, dực vận tán trị công thần đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Tả thị lang bộ Hình - Lộc Diên hầu Nguyễn Công soạn (Bùi Văn Vỹ dịch) vào tháng 3 năm Canh Dần: “Bậc đại vương công thần mở nước, đặc biệt tiến phong bậc thượng tướng quân, phò đất nước, tể tướng kiêm phò mã hai vệ quân Kim Ngô đô úy, bậc trụ cột lớn của nước, phong thêm Kim Ngô phò giúp vận mệnh, cứu đời, yên dân, bảo vệ đất nước, chắp cánh cho bậc thánh, lớn lao, nối tiếp bổng lộc, nổi rõ sự giúp đỡ rộng khắp ơn huệ, nhân đạo hết mực, đức lớn, dũng cảm, rộng rãi thành đạt, độ lượng lớn, khoan dung nhân đạo, trung trực đứng đắn, ơn rồng nổi rõ nối tiếp công lao cao cả, đức độ cứu mọi người, kéo dài sự lớn lao ứng nghiệm nổi tiếng linh thiêng”.
Ông mất ngày mùng 8 tháng 8 năm Canh Thìn, hưởng thọ 54 tuổi; mộ táng ở chân núi Đào, ngay trên mảnh đất quê hương ông. Ghi nhận công lao, đóng góp và tài năng, đức độ của ông, nhà vua đã ban sắc phong cho ông là “Thượng đẳng Phúc thần Đại vương” và cho phép người dân địa phương lập đền thờ phụng, tế lễ theo điển phép Nhà nước. Các đời vua sau đều có ban sắc phong.
Quy mô, kiến trúc đền thờ trước đây gồm “điện chính một tiền đường, một dải vũ, hai tam quan. Cửa chính hai bên tả hữu có quan coi cửa và có cả bia, nhà bia. Tướng công và công chúa được đặt tượng ở chính điện, có long ngai tại tiền đường nội”. Tuy nhiên, theo dòng thời gian cùng biến động lịch sử, đền xưa bị phá hủy hoàn toàn. Nhằm bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử - văn hóa truyền thống của làng xã, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của đông đảo bà con Nhân dân, năm 2016, khu đền thờ và lăng mộ đã được tu bổ, tôn tạo khang trang từ nguồn ngân sách Nhà nước và xã hội hóa. Kiến trúc ngôi đền mang đậm phong cách truyền thống với những đầu đao cong vút, mang theo biểu tượng rồng thiêng kiêu hãnh vươn lên trời xanh; những đường nét hoa văn chạm trổ công phu, khéo léo trên cửa gỗ, cột trụ bê tông... Không gian thờ tự phía trong đền thờ được bày trí trang trọng, nhuốm sắc màu tâm linh. Ngay sát đền thờ, lăng mộ của Phòng ngự sứ Thiều Thốn nằm lặng lẽ dưới bóng cây xanh mướt mát, gợi cảm giác thanh tịnh, an yên.
Dẫu người xưa đã về với cát bụi, thân thể đã hóa vào mạch đất quê hương nhưng danh thơm vẫn lưu truyền muôn thuở; tài năng, tinh thần, cốt cách ấy vẫn mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ con cháu học tập, noi theo. Và khi mỗi nén nhang thơm được thắp lên là một thông điệp từ lòng tri ân, biết ơn của thế hệ cháu con hôm nay thành tâm gửi tới các bậc tiền nhân. Mạch nguồn lịch sử - văn hóa hòa cùng niềm tự hào, lòng tri ân ấy đã và đang kết thành động lực, sức mạnh nội sinh đưa làng Nhuận Thạch nói riêng, xã Đông Tiến nói chung luôn vững bước trên hành trình tương lai.
Bài và ảnh: Đăng Khoa
* Bài viết có sử dụng tư liệu trong cuốn kỷ yếu Hội thảo khoa học “Thân thế, sự nghiệp danh nhân Thiều Thốn và dòng họ Thiều trong lịch sử”.
Nguồn Thanh Hóa : http://baothanhhoa.vn/lan-theo-nhung-via-tang-lich-su-van-hoa-lang-nhuan-thach-270245.htm