Tấm bia đá còn sót lại nguyên vẹn tại Khu di tích Quốc gia Ly Cung Nhà Hồ.
Có một nhân vật không phải trong truyền thuyết mà là nhân vật có thật vào cuối thế kỷ XIII nửa đầu thế kỷ XIV. Tên ông là Phạm Bân, người ở hương Đại Lại (hay) Kim Âu, thôn Hưng Phát (thuộc xã Hà Ngọc, Hà Đông, huyện Hà Trung (cũ) nay là xã Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa (sách Địa chí huyện Hà Trung, NXB Khoa học Xã hội - năm 2005).
Nói đến địa danh Đại Lại, tại Hội thảo khoa học “Hồ Quý Ly với quê hương Hà Trung” tháng 11/2012 do UBND huyện Hà Trung phối hợp với Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Thanh Hóa và Hội đồng họ Hồ Việt Nam tổ chức tại huyện Hà Trung. Trong bài tham luận, Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Danh Phiệt - Viện sử học Việt Nam, viết: “Hương Đại Lại là quê hương của Hồ Quý Ly”, và “Các vương hầu nhà Trần họp nhau ở sông Đại Lại phủ Thanh Hóa để dấy binh vào năm 1370, năm 1403 Hồ Hán Thương đổi tên núi Đại Lại thành núi Kim Âu”. Và “Nhắc đến Hồ Quý Ly không thể không nghĩ đến quê hương Đại Lại của ông, vùng đất mà trung tâm là xã Hà Đông, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa”.
Câu chuyện về Thái y Phạm Bân là một trong những mẩu chuyện trong tác phẩm “Nam Ông mộng lục” của Hồ Nguyên Trừng (con cả Hồ Quý Ly) biên soạn vào năm Chính Thống thứ ba (1438). Theo lời đề tựa của Hồ Nguyên Trừng, thì “Nam Ông mộng lục” (Nam Ông chính là Hồ nguyên Trừng, còn Mộng lục là những mẩu chuyện tốt biên soạn lại) để “biểu dương việc thiện của người xưa” và để cung cấp điều mới lạ cho người quân tử”. Những người ông ghi chép trong sách đều là người thiện “vì chuyện thiện tôi rất thích mê nghe”. Đây cũng là tác phẩm mở đường cho khuynh hướng viết về “người thực, việc thực” trong văn xuôi tự sự Việt Nam.
Chuyện kể rằng: Vào cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, Nhà họ Phạm đã nhiều đời làm nghề thầy thuốc chữa bệnh có tiếng trong vùng. Đến Phạm Bân, với tài trị bệnh cứu người, y thuật càng tinh thông, được vua Trần Anh Tông (1293-1314) mời giữ chức Thái y lệnh, chuyên trông nom sức khỏe cho nhà vua, các quan trong triều và hoàng tộc trong cung đình. Điều này cho thấy Phạm Bân- một tấm gương y đức sáng ngời của ông về y học thời bấy giờ.
Hàng ngày, Phạm Bân chuyên tâm đến Thái y viện chầu trực, tối về nhà lại bận rộn với bệnh nhân gần xa. Có người yêu mến đã thưa với cụ: làm quan ngự y đã vất vả rồi, cụ còn hơi sức đâu mà chữa bệnh tại gia? Phạm Bân tươi cười nói rằng: sinh ra thầy thuốc là để chữa bệnh, lẽ nào người có bệnh mà không chữa cho họ?
Nhà ở của Thái y đơn sơ mái lá vách phên, nhưng lúc nào cũng nhiều khách lui tới để nhờ chữa bệnh. Tiền lương, tiền thưởng ông dành dụm từng đồng mua thuốc tốt, gạo ngon cho người đến chữa bệnh, thậm chí bệnh nhân có thể ăn, ở luôn tại nhà. Có người mắc bệnh gây phiền toái nhưng Phạm Bân đều tự tay chăm sóc, không nề hà. Ông thường dùng loại lá trầu không, hay trái bồ kết mà dân gian hay sử dụng để tẩy uế sát trùng và được coi như một phương thuốc thần hiệu.
Những năm mất mùa đói kém, các chứng ôn hoàng dịch lễ xóa tên cả làng. Phạm Bân phải dựng thêm chỗ để đón bệnh nhân tới cứu chữa. Nhờ vậy, kẻ bần cùng cũng may mắn được ông cứu sống, không ít chứng bệnh nan y dần dần qua khỏi. Một buổi tối, Phạm Bân đang ăn cơm, có người đến mời đi thăm bệnh. Ông khách cho biết bệnh nhân đang mang thai, bị băng huyết máu chảy dầm dề. Phạm Bân vội buông bát đũa đang ăn xuống mâm. Ông nói “cứu người như cứu hỏa”, an nguy chỉ ở sớm, muộn một bước chân thôi”. Miệng nói, tay ông ôm vội tráp thuốc, bước nhanh ra cửa. Vừa ra tới cửa, ông gặp ngay viên thái giám trong cung vẻ vội vã. Thái giám truyền lệnh: “Bà Thái phi lên cơn sốt, quan gia lệnh cho cụ vào cung ngay để xem mạch bốc thuốc”. Phạm Bân nói: Hiện có người dân bị bệnh hết sức nguy cấp, tôi phải đi xem thế nào rồi sẽ vào cung sau, bệnh bà Thái phi bình thường, chậm một tí cũng chẳng sao. Thái giám nói “không được”, lệnh quan gia (chỉ nhà vua) ông phải đi ngay. Phạm Bân nói nhờ Thái giám tâu hộ tôi sẽ vào chịu lệnh sau, ngài cứ yên tâm. Phạm Bân cất bước, thái giám nắm áo ông ngăn giữ lại. Tính mệnh ông nằm trong tay quan gia, tại sao ông chỉ lo cứu tính mệnh cho người mà sao không lo cứu mệnh cho mình, Thái giám nói. Tôi biết thế là có tội. Nhưng làm thầy thuốc không nên vì sợ chết mà không dám cứu người sắp chết. Đành phải trông chờ vào lượng trời biển của quan gia. Xin nhờ Thái giám tâu giúp cho một tiếng, tôi sẽ tạ ơn sau. Nói xong, Phạm Bân liền đi ngay.
Người đàn bà có thai bị băng huyết rất nặng, nhờ được thầy thuốc giỏi cứu chữa kịp thời. Phạm Bân vào triều khấu đầu tạ tội. Vua Trần Anh Tông quở trách về tội khi quân, cố ý chậm trễ. Phạm Bân tâu bày lý do chậm trễ vì cần phải cứu sống người sắp chết. Nhà vua hỏi “ngươi không sợ mắc tội chết hay sao”. Phạm Bân tâu “đem một mạng già này đổi lấy hai mạng trẻ kia được sống, thần đâu dám hối tiếc”. Anh Tông mừng khen “khanh là một lương y tài đức vẹn toàn”. Sau khi Phạm Bân thăm mạch, kê đơn cho Thái phi xong, nhà vua hỏi “bệnh Thái phi thế nào”. Phạm Bân tâu “chỉ là do cảm mạo, bệnh không đến nỗi nguy cấp, sau khi dùng nước thuốc lần đầu sẽ đỡ, dùng hết cả thang tất lành khỏi như thường”. Nhà vua bỗng nghiêm sắc mặt nói “đáng lẽ ngụ y có thưởng, nhưng hôm nay mắc tội chậm trễ, không lo chữa bệnh trong cung theo chức phận, nên phải phạt không cho tiền thưởng để giữ nghiêm phép nước”. Phạm Bân lạy tạ ơn vua, vui vẻ ra về. Con cháu Phạm Bân về sau vẫn nối nghề thầy thuốc, đời nào cũng được dân tín phục, trọng vọng.
Trong lịch sử y học nước nhà, đã có không ít vị danh y được người đời mến mộ và trọng vọng. Họ là những bậc lương y chân chính, vừa giỏi về y thuật, vừa có lòng nhân đức thương xót người bệnh như chính bản thân mình, tên tuổi của họ được lưu danh trong sử sách. Thái y lệnh Phạm Bân từng nói: “Thầy thuốc giỏi cốt ở tấm lòng”. Hình ảnh đẹp về lương y chân chính Phạm Bân dưới triều đại nhà Trần và tổ tiên của ông có nghề y gia truyền được người đời ca tụng cho tới ngày nay.
Lê Như Cương (CTV)