Trong không gian phát triển mới, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam sẽ tạo động lực phát triển mới cho khu vực phía Tây Hà Nội. Ảnh: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Trong không gian phát triển mới, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam vừa là thiết chế bảo tồn văn hóa, vừa là điểm đến mang thương hiệu quốc gia trên bản đồ du lịch quốc tế..., hình thành hệ sinh thái liên hoàn, tạo động lực phát triển mới cho khu vực phía Tây Hà Nội.
Mắt xích trong chiến lược phát triển đô thị sáng tạo
Một trong những điểm đáng chú ý của Nghị quyết số 02-NQ/TW (Nghị quyết 02) là tư duy phát triển Thủ đô theo hướng mở rộng không gian, hình thành các cực tăng trưởng mới, phát triển văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển bền vững. Trong tầm nhìn ấy, phía Tây Hà Nội được xác định là một trong chín cực tăng trưởng của thành phố, là khu vực có vai trò đặc biệt quan trọng với chuỗi đô thị sinh thái, đô thị thông minh có điểm nhấn là Khu công nghệ cao Hòa Lạc (Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia), Đại học Quốc gia Hà Nội (Đô thị đại học), Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, Vườn quốc gia Ba Vì...
Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm cũng định hướng phát triển Hà Nội theo mô hình đô thị đa trung tâm, cân bằng giữa bảo tồn văn hóa, phát triển xanh và kinh tế sáng tạo. Bởi vậy, việc chuyển giao Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam về Hà Nội không đơn thuần là “đổi cơ quan chủ quản”, mà bản chất là đưa thiết chế này trở thành một mắt xích trong chiến lược phát triển đô thị sáng tạo của Thủ đô trong giai đoạn mới.
Trong nhiều năm qua, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam luôn được nhìn nhận là công trình có ý nghĩa biểu tượng đặc biệt với vai trò “ngôi nhà chung của 54 dân tộc anh em”. Mỗi năm, Làng đón khoảng 600.000 lượt khách, trong đó gần 50% là thế hệ trẻ, chủ yếu là học sinh, sinh viên. Bình quân hằng năm có hơn 70 lượt cộng đồng dân tộc với trên 1.000 đồng bào và khoảng 200 tiểu thương từ nhiều địa phương tham gia hoạt động văn hóa, lễ hội, trình diễn nghề thủ công, ẩm thực, phong tục tập quán truyền thống.
Tuy nhiên, để phát triển hơn nữa, thiết chế này cần được đặt trong sự kết nối chặt chẽ với quy hoạch đô thị, hạ tầng giao thông, du lịch và các không gian phát triển xung quanh. Trong khi đó, tinh thần của Nghị quyết 02 và Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm đều nhấn mạnh yêu cầu phát triển đồng bộ, liên kết vùng, liên kết không gian và tạo ra các hệ sinh thái phát triển mới thay vì những khu chức năng tồn tại biệt lập. Đó là lý do trong cuộc làm việc với các bộ, ngành về phương án chuyển giao Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam về UBND thành phố Hà Nội quản lý, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh: “Cần hình thành một hệ sinh thái phát triển liên hoàn, trong đó Làng được kết nối với các khu đô thị mới, khu công nghệ cao, khu đại học và các không gian sinh thái như Vườn quốc gia Ba Vì... để tạo động lực phát triển mạnh mẽ hơn”.
Định hướng này đặc biệt quan trọng bởi nó mở ra khả năng đưa Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam thành trung tâm quan trọng của chuỗi giá trị văn hóa - du lịch - nghỉ dưỡng - sáng tạo phía Tây Thủ đô. Thực tế cho thấy, trong bối cảnh du lịch hiện đại, một điểm đến muốn tạo sức hút phải nằm trong hệ sinh thái trải nghiệm đa dạng.
Trong buổi kiểm tra thực địa và làm việc với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cùng các đơn vị liên quan về công tác tiếp nhận, bàn giao Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng khẳng định, việc Chính phủ quyết định chuyển giao Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam về UBND thành phố Hà Nội quản lý là chủ trương lớn, có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển của Thủ đô trong giai đoạn mới.
“Khi kết nối đồng bộ giữa Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam với Vườn quốc gia Ba Vì, hồ Đồng Mô, các trục giao thông chiến lược, hệ thống thiết chế văn hóa - du lịch - thể thao hiện đại và các khu đô thị mới, nơi đây sẽ trở thành không gian phát triển đa mục tiêu của Thủ đô, vừa bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc, vừa thúc đẩy du lịch, dịch vụ, công nghiệp văn hóa và kinh tế xanh” - Chủ tịch UBND thành phố Vũ Đại Thắng nhấn mạnh.
Từ “ngôi nhà chung” đến thương hiệu văn hóa quốc gia
Một nguyên tắc quan trọng được Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh là không thay đổi chức năng, nhiệm vụ và giá trị cốt lõi của Làng với vai trò “ngôi nhà chung của 54 dân tộc anh em”. Đây không chỉ là yêu cầu về bảo tồn văn hóa, mà còn là vấn đề giữ gìn bản sắc trong quá trình phát triển.
Thực tế cho thấy, điều tạo nên sức hút của một thiết chế văn hóa không nằm ở quy mô xây dựng hay sự hoành tráng của công trình, mà ở khả năng tạo ra trải nghiệm văn hóa chân thực và khác biệt. Một không gian văn hóa hiện đại không thể chỉ dừng ở việc tái hiện đời sống dân tộc theo kiểu “trưng bày tĩnh”. Điều du khách cần là những trải nghiệm sống động: Được tham gia lễ hội, thưởng thức nghệ thuật dân gian trong không gian sáng tạo mới, trải nghiệm nghề thủ công truyền thống, khám phá ẩm thực vùng miền, nghỉ dưỡng sinh thái hay tương tác với công nghệ số để hiểu sâu hơn về văn hóa Việt Nam. Nói cách khác, văn hóa phải được đặt trong dòng chảy của đời sống đương đại.
Đáng chú ý, yêu cầu đổi mới tư duy, tiếp cận theo hướng “mở”, đẩy mạnh xã hội hóa, thu hút đầu tư, không bó hẹp trong mô hình quản lý nhà nước truyền thống có thể xem là chìa khóa quan trọng để tạo đột phá cho Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam trong giai đoạn mới.
Một trung tâm văn hóa - du lịch mang tầm quốc gia và khu vực sẽ khó có thể phát triển năng động nếu chỉ dựa vào nguồn lực công. Vì vậy, để có được sức sống mới, không gian này cần sự tham gia của doanh nghiệp, giới sáng tạo, các nhà đầu tư du lịch, công nghệ, truyền thông và cả cộng đồng văn hóa. Quan trọng hơn, cùng với nguồn lực con người, công nghệ thì cơ chế mở sẽ tạo điều kiện để văn hóa dân tộc bước gần hơn với đời sống đương đại. Từ đây, các giá trị văn hóa sẽ có thêm cơ hội được kể bằng ngôn ngữ mới, công nghệ mới và những hình thức trải nghiệm mới phù hợp với nhu cầu của du khách hiện đại.
Có thể thấy, việc chuyển giao Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam về Hà Nội đang mở ra cơ hội để tái định vị vai trò của thiết chế này trong chiến lược phát triển dài hạn của Thủ đô. Nhưng để biến tiềm năng thành động lực phát triển thực sự, điều cần thiết không chỉ là thay đổi mô hình quản lý mà còn là xây dựng được cơ chế vận hành đủ linh hoạt, tạo kết nối hiệu quả giữa bảo tồn văn hóa với phát triển du lịch, công nghiệp sáng tạo và kinh tế xanh.
Từ lời khẳng định của Chủ tịch UBND thành phố Vũ Đại Thắng: “Hà Nội sẽ kế thừa và phát huy toàn bộ những kết quả đã đạt được đồng thời sẽ nghiên cứu cơ chế, chính sách phù hợp để đẩy mạnh thu hút đầu tư ngoài ngân sách, phát triển các không gian dịch vụ, du lịch, nghỉ dưỡng, công nghiệp văn hóa gắn với bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc”, Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam hoàn toàn có thể trở thành một thiết chế mang thương hiệu quốc gia, có tầm vóc khu vực và quốc tế, là điểm đến không thể thiếu đối với du khách khi đến Việt Nam.
Phạm Hương Giang