Quyền của người lao động khi tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung
Từ ngày 10/5/2026, Nghị định 85/2026/NĐ-CP về bảo hiểm hưu trí bổ sung bắt đầu có hiệu lực thi hành.
Theo đó, người lao động tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung có các quyền sau:
Tự nguyện tham gia, dừng hoặc tạm dừng tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung theo văn bản thỏa thuận giữa doanh nghiệp sử dụng lao động và người lao động và chương trình bảo hiểm hưu trí bổ sung đã đăng ký với doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí;
Nhận chi trả bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định của Nghị định 85/2026;
Được áp dụng ưu đãi về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập được chi trả từ quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân; được trừ khoản đóng góp bảo hiểm hưu trí bổ sung vào thu nhập trước khi tính thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công theo mức quy định của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân;
Theo dõi và yêu cầu người sử dụng lao động thực hiện đầy đủ trách nhiệm theo văn bản thỏa thuận giữa doanh nghiệp sử dụng lao động và người lao động, chương trình bảo hiểm hưu trí bổ sung đã đăng ký với doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí;
Được cung cấp đầy đủ tài liệu giới thiệu về quỹ hưu trí theo quy định tại Điều 27 Nghị định 85/2026. Hằng tháng được doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí hoặc doanh nghiệp sử dụng lao động cung cấp thông tin về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung; được yêu cầu doanh nghiệp quản lý quỹ hưu trí xác nhận thông tin về tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung;
Được bảo mật thông tin về việc tham gia bảo hiểm hưu trí bổ sung;
Được duy trì hợp đồng bảo hiểm hưu trí bổ sung trong thời gian tối đa không quá 1 năm hoặc lựa chọn chuyển tài khoản hưu trí cá nhân sang quỹ hưu trí khác sau khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc khi đến tuổi nghỉ hưu theo quy định tại khoản 8 Điều 16 Nghị định 85/2026;
Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện về bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định của pháp luật. Được chỉ định người thừa kế theo thứ tự quy định của Bộ luật Dân sự tại văn bản thỏa thuận hoặc trong phiếu đăng ký tham gia quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung để hưởng chi trả từ quỹ hưu trí.
Hai Luật mới có hiệu lực từ ngày 1/5/2026
Hai luật mới bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 là Luật Bảo hiểm tiền gửi 2025 và Luật Giám định tư pháp 2025.
Đối với Luật Bảo hiểm tiền gửi 2025, một trong những nội dung đáng chú ý là quy định về thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm. Theo đó, nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm phát sinh kể từ một trong các thời điểm sau đây:
Phương án phá sản tổ chức tín dụng được phê duyệt hoặc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản xác định chi nhánh ngân hàng nước ngoài mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản đình chỉ hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức tín dụng được kiểm soát đặc biệt và tổ chức tín dụng đó có lỗ lũy kế lớn hơn 100% giá trị của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán gần nhất.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản thông báo cho tổ chức bảo hiểm tiền gửi về việc trả tiền bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Bảo hiểm tiền gửi 2025 (Trả tiền bảo hiểm để bảo đảm an toàn hệ thống, trật tự, an toàn xã hội).
Đối với Luật Giám định tư pháp 2025, một trong những thay đổi có thể kể đến là về thời hạn giám định tư pháp. Theo đó, thời hạn giám định tư pháp đối với các trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định tư pháp được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự.
Trong khi đó, thời hạn giám định tư pháp đối với các trường hợp không thuộc trường hợp nêu ở trên tối đa là 2 tháng; trường hợp vụ việc giám định có tính chất phức tạp hoặc khối lượng công việc lớn thì thời hạn giám định tối đa là 03 tháng; trường hợp vụ việc giám định có tính chất đặc biệt phức tạp hoặc khối lượng công việc đặc biệt lớn thì thời hạn giám định tối đa là 4 tháng.
Bộ, cơ quan ngang Bộ quản lý chuyên môn về lĩnh vực giám định tư pháp căn cứ tính chất chuyên môn của lĩnh vực giám định, thời hạn giám định tối đa nêu tại khoản này để quy định thời hạn giám định tư pháp cho từng loại việc cụ thể.
Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định EVFTA
Thông tư 14/2026/TT-BCT quy định Quy tắc xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu do Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 10/5/2026. Trong đó, có quy định chung về cơ chế chứng nhận xuất xứ hàng hóa như sau:
Hàng hóa có xuất xứ Liên minh châu Âu nhập khẩu vào Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan theo EVFTA khi nộp một trong những chứng từ chứng nhận xuất xứ sau: C/O được phát hành theo quy định từ Điều 20 đến Điều 23 Thông tư 14/2026. Chứng từ tự chứng nhận xuất xứ theo quy định tại Điều 24 Thông tư 14/2026 do nhà xuất khẩu đủ điều kiện theo quy định của Liên minh châu Âu phát hành đối với lô hàng có trị giá bất kỳ; hoặc nhà xuất khẩu bất kỳ phát hành đối với lô hàng không quá 6.000 EUR. Chứng từ tự chứng nhận xuất xứ phát hành bởi nhà xuất khẩu đăng ký lại cơ sở dữ liệu điện tử phù hợp quy định của Liên minh châu Âu và đã được thông báo với Việt Nam.
Hàng hóa có xuất xứ Việt Nam nhập khẩu vào Liên minh châu Âu được hưởng ưu đãi thuế quan theo EVFTA khi có một trong những chứng từ chứng nhận xuất xứ sau: C/O được phát hành theo quy định tại Điều 4 và từ Điều 20 đến Điều 23 Thông tư 14/2026. Chứng từ tự chứng nhận xuất xứ theo quy định tại Điều 25 Thông tư này phát hành bởi nhà xuất khẩu có lô hàng trị giá không quá 6.000 EUR. Chứng từ tự chứng nhận xuất xứ phát hành bởi nhà xuất khẩu đủ điều kiện hoặc nhà xuất khẩu đăng ký tại cơ sở dữ liệu phù hợp quy định của Bộ Công Thương. Việc tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa quy định tại điểm c khoản 2 Điều 19 Thông tư 14/2026 thực hiện theo quy định của Bộ Công Thương và áp dụng sau khi Việt Nam thông báo với Liên minh châu Âu.
Trong trường hợp áp dụng Điều 29 Thông tư 14/2026, hàng hóa có xuất xứ được hưởng ưu đãi EVFTA mà không cần nộp chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa quy định tại Điều 19 Thông tư 14/2026.
Nội dung chi từ nguồn kinh phí quản lý hành chính giao thực hiện chế độ tự chủ
Nội dung này được quy định tại Nghị định 75/2026/NĐ-CP quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về quản lý, sử dụng kinh phí quản lý hành chính (có hiệu lực từ ngày 1/5/2026), cụ thể như sau:
Chi tiền lương, phụ cấp lương, các khoản đóng góp theo lương, chi tiền lương hợp đồng lao động, chi phúc lợi tập thể và các khoản thanh toán khác cho cá nhân theo quy định hiện hành của Chính phủ về cơ chế tiền lương đối với cán bộ, công chức và người lao động trong cơ quan hành chính nhà nước và các quy định của pháp luật có liên quan.
Chi thực hiện công tác thi đua, khen thưởng: Thực hiện theo quy định của Luật Thi đua khen thưởng và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.
Các khoản chi bố trí trong định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên theo quy định: Chi thanh toán dịch vụ công cộng, vật tư văn phòng, thông tin, tuyên truyền, liên lạc, hội nghị, tổng kết, công tác phí trong nước, chi cho các đoàn đi công tác nước ngoài và đón các đoàn khách nước ngoài vào Việt Nam; chi phí thuê mướn, chi nghiệp vụ chuyên môn quản lý ngành, lĩnh vực; chi bảo dưỡng, bảo trì, sửa chữa thường xuyên các công trình cơ sở hạ tầng, tài sản phục vụ công tác chuyên môn; chi mua sắm, thay thế trang thiết bị, phương tiện làm việc của cán bộ, công chức theo tiêu chuẩn, định mức và các khoản chi khác bố trí trong định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên theo quy định.
Các khoản chi nghiệp vụ đặc thù thường xuyên hàng năm theo chức năng, nhiệm vụ đã được cơ quan có thẩm quyền phân bổ, giao dự toán thực hiện chế độ tự chủ theo quy định.
Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật.
Sử dụng dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời trên ứng dụng định danh quốc gia VnelD
Nghị định số 88/2026/NĐ-CP ngày 28/3/2026 của Chính phủ nêu rõ, các cơ quan, đơn vị trong hệ thống giáo dục quốc dân theo thẩm quyền có trách nhiệm chuẩn bị, xây dựng hệ thống công nghệ hoặc sử dụng dịch vụ của các nhà cung cấp phục vụ việc tạo lập, báo cáo dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời theo quy định.
Dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời sau khi được tiếp nhận, lưu trữ hợp lệ trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về giáo dục và đào tạo sẽ được chia sẻ, liên thông tích hợp tự động trên ứng dụng định danh quốc gia VNelD. Các cá nhân có quyền khai thác dữ liệu hồ sơ học tập suốt đời của bản thân đã được tích hợp trên ứng dụng định danh quốc gia để sử dụng tương đương cho các loại văn bản giấy liên quan.
Nghị định số 88/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 15/5/2026.
Từ ngày 15/5/2026, người sử dụng thuốc lá điện tử bị phạt tới 5 triệu đồng
Đối với các hành vi vi phạm quy định về sử dụng, chứa chấp thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, Nghị định số 90/2026/NĐ-CP ngày 30/3/2026 quy định như sau:
Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.
Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi chứa chấp người khác sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại địa điểm thuộc quyền sở hữu hoặc quản lý của mình, trừ trường hợp người chứa chấp là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người vi phạm.
Quy định trên có hiệu lực từ ngày 15/5/2026.
Chung sống như vợ chồng với người khác khi đang có vợ hoặc chồng sẽ bị phạt tới 10 triệu đồng
Từ ngày 18/5/2026, Nghị định 109/2026/NĐ-CP ngày 1/4/2026 của Chính phủ có hiệu lực, thay thế quy định tại Nghị định 82/2020/NĐ-CP.
Theo Nghị định 109/2026/NĐ-CP, một trong các hành vi sau bị phạt tiền mức 5.000.000 đồng đến 10.000.000:
Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;
Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;
Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;
Cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.
Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực
Nghị định 133/2026/NĐ-CP ngày 6/4/2026 của Chính phủ quy định cụ thể các hành vi vi phạm trong sử dụng điện và mức xử phạt tương ứng.
Cụ thể, đối với trường hợp người cho thuê nhà thu tiền điện của người thuê cao hơn mức quy định, nếu mua điện theo giá bán lẻ điện phục vụ sinh hoạt thì sẽ bị phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng.
Ngoài ra, các hành vi khác liên quan đến sử dụng điện sẽ bị phạt như sau:
Phạt tiền mức 3 - 5 triệu đồng: Không thông báo khi giảm số hộ dùng chung công tơ hoặc kê khai sai số người để hưởng định mức điện sinh hoạt;
Phạt tiền mức 5 - 8 triệu đồng: Tự ý lắp đặt, đóng, cắt, sửa chữa, di chuyển, thay thế thiết bị hoặc công trình điện của bên bán điện;
Phạt tiền mức 4 - 10 triệu đồng: Trộm cắp điện có giá trị dưới 1 triệu đồng; phạt tiền mức 10 - 20 triệu đồng nếu trộm cắp điện có giá trị 1 - dưới 2 triệu đồng;
Phạt tiền mức 60 - 80 triệu đồng: Sử dụng điện lớn gồm thiết bị không đạt chuẩn, không tuân thủ điều độ, không cắt giảm điện, không đầu tư hệ thống đo đếm theo quy định;
Nghị định 133/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 25/5/2026.
Quy định mới về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì có hiệu lực từ ngày 25/5/2026
Ngày 1/4/2026, Chính phủ ban hành Nghị định 110/2026/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trường về trách nhiệm tái chế sản phẩm, bao bì và trách nhiệm xử lý chất thải của nhà sản xuất, nhập khẩu (EPR). Nghị định có hiệu lực từ ngày 25/5/2026.
Theo quy định, doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu phải thực hiện tái chế sản phẩm, bao bì theo tỷ lệ và quy cách bắt buộc khi đưa ra thị trường Việt Nam. Trường hợp ủy thác nhập khẩu, đơn vị chịu trách nhiệm ghi nhãn hàng hóa sẽ phải thực hiện nghĩa vụ tái chế. Điều này làm rõ trách nhiệm pháp lý, hạn chế tình trạng "né" nghĩa vụ môi trường.
Nghị định cũng quy định một số trường hợp được miễn trách nhiệm tái chế, như doanh nghiệp có doanh thu dưới 30 tỷ đồng/năm hoặc sản phẩm phục vụ xuất khẩu, nghiên cứu. Tuy nhiên, về dài hạn, chính sách vẫn hướng tới mở rộng phạm vi áp dụng nhằm nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp…
Thanh Hà