Lợi nhuận toàn ngành đạt hơn 94.000 tỷ
Trong báo cáo phân tích ngành ngân hàng mới công bố, Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho biết tổng thu nhập hoạt động của 27 ngân hàng niêm yết trong quý I/2026 đạt hơn 190.000 tỷ đồng, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước nhưng giảm 9% so với quý trước.
Cùng với đó, lợi nhuận trước thuế toàn ngành đạt hơn 94.000 tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ và giảm 3% so với quý IV/2025, qua đó hoàn thành khoảng 23% kế hoạch lợi nhuận cả năm 2026.
Đáng chú ý, nếu loại trừ hai trường hợp có mức giảm lợi nhuận mang tính đặc thù là SACOMBANK và SeABank, tăng trưởng lợi nhuận trước thuế toàn ngành đạt tới 22% so với cùng kỳ (svck).
Trong đó, SACOMBANK ghi nhận lợi nhuận giảm 43% svck do tiếp tục đẩy mạnh trích lập dự phòng và xử lý nợ xấu sau thay đổi cơ cấu ban lãnh đạo. Trong khi đó, SeABank giảm 68% do cùng kỳ năm trước ghi nhận khoản lợi nhuận bất thường từ thương vụ bán Công ty Tài chính Bưu điện PTF cho AEON Financial Service.
Theo đó, về phía hoạt động cho vay, đến cuối quý I/2026, dư nợ tín dụng của nhóm ngân hàng niêm yết đạt gần 15 triệu tỷ đồng, tăng 19,2% svck và tăng 3,5% so với đầu năm.
Có sự phân hóa rõ nét khi các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc tổ chức tín dụng yếu kém, ngoại trừ MB, không bị giới hạn tăng trưởng tín dụng trong quý I tương ứng 25% hạn mức tăng trưởng cả năm của NHNN. Theo đó, VPBank dẫn đầu với mức tăng trưởng tín dụng 10,7%, tiếp theo là HDBank với 7,9% và Vietcombank với 4,9%.
Phần lớn các ngân hàng còn lại chỉ tăng trưởng khoảng 2-3% trong giới hạn được cấp.
Tín dụng doanh nghiệp với mức tăng khoảng 5% tiếp tục đóng vai trò động lực chính, vượt xa mức tăng khoảng 2% của tín dụng bán lẻ. Xu hướng này phản ánh nhu cầu mở rộng sản xuất và triển khai dự án của doanh nghiệp vẫn ở mức cao, đặc biệt tại các lĩnh vực bất động sản, xây dựng và khách sạn. Trong quý I/2026, chuỗi giá trị kinh doanh bất động sản tiếp tục là nhóm đóng góp lớn nhất cho tăng trưởng tín dụng.
Khảo sát của VDSC cho thấy lãi suất cho vay khách hàng doanh nghiệp hiện phổ biến ở mức 9-12%/năm, riêng các lĩnh vực rủi ro cao như kinh doanh bất động sản có thể vượt 12-14%/năm. Tuy nhiên, nhu cầu tín dụng doanh nghiệp vẫn tích cực nhờ các khoản giải ngân theo tiến độ dự án đã được phê duyệt từ trước.
Ngược lại, tín dụng khách hàng cá nhân tăng trưởng khá chậm do mặt bằng lãi suất cho vay duy trì ở mức cao. Lãi suất vay ngắn hạn phổ biến quanh 9-10,5%/năm, trong khi vay trung và dài hạn dao động 10-12%/năm, tăng khoảng 200-300 điểm cơ bản so với năm 2025.
Bên cạnh thu nhập cốt lõi từ hoạt động tín dụng, thu nhập ngoài lãi tiếp tục là điểm sáng của ngành ngân hàng trong quý đầu năm.
Thống kê cho thấy thu nhập hoạt động dịch vụ toàn ngành tăng mạnh 43% svck, trong khi thu nhập khác tăng gần 40%. Đặc biệt, thu hồi nợ xấu đã xử lý rủi ro đạt khoảng 9.500 tỷ đồng, tăng 21% svck dù quý I thường là giai đoạn thấp điểm.
Nhiều ngân hàng ghi nhận kết quả khả quan ở mảng dịch vụ như Techcombank nổi bật với thu nhập phí L/C và bảo hiểm tăng lần lượt 159% và 103% svck; VPBank ghi nhận tăng trưởng mạnh từ phí tài khoản, thu xếp và tư vấn gắn với mảng khách hàng doanh nghiệp lớn, đồng thời được hỗ trợ bởi kết quả tích cực từ bảo hiểm OPES. SHB và MB đều ghi nhận thu nhập thuần dịch vụ thanh toán tăng gần 4 lần cùng kỳ, trong khi VIB có thêm đóng góp từ thương vụ hợp tác với VISA...
NIM xuống đáy nhiều năm
Dù tín dụng tăng trưởng tích cực, huy động vốn của hệ thống vẫn theo kịp chậm hơn đáng kể. Tính đến hết quý I/2026, tăng trưởng huy động của các ngân hàng niêm yết chỉ đạt 1,7%, thấp hơn 1,8 điểm phần trăm so với tăng trưởng tín dụng. Đáng chú ý, tiền gửi khách hàng chỉ tăng khoảng 0,6% so với đầu năm dù mặt bằng lãi suất huy động đã tăng mạnh 150-250 điểm cơ bản trong quý I.
Trong bối cảnh đó, nhiều ngân hàng phải đẩy mạnh huy động qua phát hành giấy tờ có giá, với mức tăng 9,8%.
Áp lực thanh khoản gia tăng khiến tỷ lệ CASA toàn ngành giảm 1,6 điểm phần trăm so với quý trước xuống còn 20,8%, thấp hơn mức đáy năm 2022. Đồng thời, tỷ lệ LDR của nhiều ngân hàng lớn đã tiến sát ngưỡng tối đa quy định.
Tăng trưởng huy động cũng phân hóa mạnh giữa các ngân hàng. Một số ngân hàng chấp nhận chi phí vốn cao hơn để đẩy mạnh huy động ghi nhận mức tăng trưởng vượt trội, trong đó HDBank và VPBank dẫn đầu với mức tăng huy động lần lượt 12,1% so với đầu năm và 11,7% so với đầu năm.
Theo dự báo, áp lực thanh khoản có thể hạ nhiệt trong nửa cuối năm 2026 nếu tiến độ giải ngân đầu tư công được cải thiện mạnh, qua đó đưa dòng tiền quay trở lại nền kinh tế.
Trong quý I/2026, NIM toàn ngành giảm gần 15 điểm cơ bản so với quý trước, xuống còn 2,9% - mức thấp nhất trong nhiều năm.
Trong khi lợi suất tài sản sinh lãi chỉ tăng khoảng 15 điểm cơ bản lên 6,75%, chi phí vốn lại tăng mạnh 30 điểm cơ bản lên 4,2% do áp lực thanh khoản.
Theo đánh giá, lợi suất tài sản chưa phản ánh đầy đủ tác động tái định giá lãi suất và mức tăng của lãi suất cho vay mới do bị ảnh hưởng bởi tình trạng thoái lãi dự thu khi nợ quá hạn tăng trở lại.
Nợ xấu hình thành ròng tăng mạnh
Về phía chất lượng tài sản, nợ xấu nội bảng toàn ngành tăng 11% lên khoảng 293.000 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ nợ xấu đạt 1,99%, cao hơn mức 1,86% cuối năm 2025. Nợ nhóm 2 cũng tăng 10% lên hơn 181.000 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ 1,23%.
Đáng chú ý, nợ xấu hình thành ròng tăng mạnh trở lại lên gần 55.000 tỷ đồng trong quý I/2026, so với khoảng 39.000 tỷ đồng quý trước. Trong khi đó, quy mô trích lập dự phòng chỉ khoảng 39.000 tỷ đồng khiến tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) toàn ngành giảm xuống còn 80% từ mức 83% cuối năm 2025.
Nợ xấu mới phát sinh tập trung chủ yếu tại BIDV, VPBank, VietinBank, MB và TPBank. Riêng nhóm ngân hàng này cùng các công ty tài chính liên quan chiếm gần 70% tổng nợ xấu hình thành ròng toàn ngành.
Dù vậy, xu hướng gia tăng nợ xấu được cho là vẫn chịu ảnh hưởng bởi yếu tố mùa vụ khi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thường gián đoạn sau kỳ nghỉ Tết, đồng thời còn phản ánh hệ quả từ hoạt động quản trị báo cáo nợ xấu trong quý IV hàng năm.
VDSC cho rằng, diễn biến này vẫn cần tiếp tục theo dõi trong quý II/2026, đặc biệt trong bối cảnh lãi suất duy trì ở mức cao có thể ảnh hưởng tới khả năng trả nợ của khách hàng vay. Ngoài ra, tác động gián tiếp từ cuộc chiến Trung Đông kéo dài lên chi phí đầu vào và lạm phát cũng có thể tạo thêm áp lực lên chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng.
Trang Mai