Sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đang mở ra những kỳ vọng to lớn về một nền nông nghiệp sinh thái và cơ hội thương mại hóa tín chỉ carbon. Tuy nhiên thực tế sản xuất tại các HTX đang vấp phải những lực cản không nhỏ.
Sản xuất lúa gạo truyền thống phát thải ra lượng lớn khí nhà kính (chủ yếu là khí methane – CH4) và tiêu tốn lượng nước ngọt toàn ngành nông nghiệp.
Chi phí vượt quá lợi nhuận carbon
Do đó, chuyển đổi sang mô hình phát thải thấp là xu thế không thể đảo ngược, song thực tế triển khai tại quy mô dự án 4.000 ha với sự tham gia của 15 HTX vùng ĐBSCL do tổ chức Rikolto đồng hành đã bộc lộ những nút thắt từ thực tế.
Để một tấn carbon giảm phát thải được công nhận và cấp tín chỉ, quy trình đo lường, báo cáo và thẩm định (MRV) phải tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn quốc tế.
Ông Trần Thanh, cán bộ carbon Chương trình lúa gạo của Rikolto, chỉ ra rằng, việc theo dõi chu kỳ khô - ngập xen kẽ phải diễn ra liên tục trong nhiều mùa vụ, đòi hỏi nguồn nhân lực khổng lồ từ ban quản trị HTX, cán bộ địa phương đến chuyên gia dự án.
Đặc biệt, do ghi chép thủ công, thông qua nhiều người, nhật ký canh tác hoặc các số liệu thu thập được có thiếu chính xác, dễ xảy ra sai sót hoặc thậm chí là gian lận dữ liệu do áp lực tâm lý.
Bên cạnh đó, ở thời điểm hiện tại, giá tín chỉ carbon lúa gạo trên thị trường quốc tế nếu so với chi phí bỏ ra để sản xuất, thu thập, đo đạc dữ liệu là chưa thực sự tương xứng.
Vấn đề HTX quan tâm nhất trong sản xuất chính là nguồn thu nhập.
“Một thửa ruộng phải đo đi đo lại nhiều lần, nhân lên với quy mô hàng ngàn héc-ta thì chi phí vận hành, chi phí ngầm là vô cùng lớn”, ông Lê Tuấn, Giám đốc lúa gạo của Rikolto tại ĐBSCL nhấn mạnh.
Chính vì những điều này mà thực tế tại địa phương cho thấy, không phải 100% thành viên HTX đều đồng thuận tham gia sản xuất lúa chất lượng cao, giảm phát thải. Sự phân hóa diễn ra ngay trong nội bộ các tổ chức kinh tế tập thể do đặc thù hạ tầng thủy lợi bất cập, văn hóa sản xuất và cũng do người dân/thành viên HTX chưa thực sự thấy được hết những giá trị từ mô hình này.
Tại ĐBSCL, hệ thống kênh rạch đan xen, việc điều tiết nước "ngập - khô xen kẽ" đòi hỏi sự đồng bộ của cả một vùng đê bao lớn.
Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Khánh, Giám đốc HTX dịch vụ nông nghiệp Tân Bình (Đồng Tháp), diện tích đất canh tác của mỗi hộ thành viên hiện nay rất manh mún, bình quân chỉ từ 1- 2 héc-ta. Với mức giảm phát thải kỳ vọng đạt khoảng 3 tấn CO2, sau khi bán tín chỉ và trừ đi các chi phí trung gian, kiểm toán, số tiền thực tế đổ về túi người dân và thành viên còn nhỏ.
Nhiều nông hộ thành viên coi đây chưa phải là mức lợi nhuận đủ hấp dẫn để họ đánh đổi bằng việc gia tăng công lao động và cam kết ràng buộc lâu dài.
Động lực phải từ “nồi cơm” của HTX
Để kéo người nông dân và các HTX ra khỏi vùng an toàn canh tác truyền thống, không thể chỉ dùng những khẩu hiệu vĩ mô về môi trường, mà phải bắt đầu từ lợi ích kinh tế thiết thực nhất. Theo các chuyên gia, chìa khóa nằm ở việc tích hợp đa giá trị và tái cấu trúc chuỗi chi phí đầu vào.
Tại tọa đàm "Cơ hội từ thị trường carbon cho HTX nhìn từ dự án lúa gạo phát thải thấp", ông Lê Tuấn, Giám đốc lúa gạo của Rikolto ở Đồng bằng sông Cửu Long, đã chỉ ra một thực tế rằng, tiền bán tín chỉ carbon chỉ là phần giá trị gia tăng sau cùng khi thực hiện sản xuất lúa gạo chất lượng cao, giảm phát thải. Thay vào đó, động lực kinh tế mạnh mẽ nhất, trực quan nhất thu hút nông dân/HTX tham gia mô hình này chính là việc cắt giảm chi phí sản xuất ngay trong vụ mùa.
Trung bình trong điều kiện giá vật liệu đầu vào tăng cao như hiện nay, chi phí đầu tư cho một vụ lúa tại ĐBSCL dao động từ 22 - 25 triệu đồng/ha. Khi áp dụng đúng quy trình phát thải thấp (giảm lượng giống gieo sạ từ 150kg xuống dưới 80kg/ha, giảm 30-40% lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật, tiết kiệm điện nước tưới), HTX có thể giúp thành viên tiết kiệm ngay tới 30% chi phí sản xuất (tương đương mức giảm từ 6,6 - 7,5 triệu đồng/ha/vụ).
“Đây chính là con số biết nói giúp người dân/HTX thấy rõ lợi ích trước mắt mà chưa cần chờ tiền từ thị trường carbon quốc tế”, ông Lê Tuấn cho biết.
Ngoài ra, HTX khi tham gia đều nhận được những hỗ trợ thiết thực như: hỗ trợ đào tạo kỹ thuật, hỗ trợ chứng nhận; hỗ trợ máy móc thiết bị, tính toán phát thải và phát hành tín chỉ carbon; thúc đẩy hình thành liên kết với doanh nghiệp/công ty lúa gạo để tiêu thụ gạo đạt chứng nhận.
Song song đó, ông Nguyễn Tuấn Anh, Quản lý dự án lúa gạo, Rikolto, cho biết cơ chế thưởng trực tiếp cũng được áp dụng. Những hộ thành viên HTX thực hành chuẩn xác việc rút nước, ghi nhật ký canh tác minh bạch… sẽ nhận ngay mức hỗ trợ thủy lợi phí 300.000 đồng/ha.
HTX đóng vai trò hạt nhân điều phối
Thực tế cho thấy, những điển hình như HTX Thắng Lợi (Đồng Tháp) thành công nhờ được hỗ trợ đạt các chứng nhận lúa gạo giảm carbon quốc tế; hay HTX Tân Bình (Đồng Tháp) thu lời lớn nhờ thu gom, xử lý rơm rạ thành phân bón hữu cơ hoặc dùng rơm phục vụ trồng nấm, đã chứng minh mô hình kinh tế này hoàn toàn khả thi và về giá trị gia tăng cho thành viên.
Theo các chuyên gia, đại diện các dự án sản xuất lúa chất lượng cao, giảm phát thải chỉ có thể làm việc trực tiếp với cán bộ HTX chứ không thể làm việc riêng lẻ với từng hộ nông dân bởi quy mô sản xuất rất lớn.
Do đó, HTX đóng vai trò hạt nhân điều phối, quản lý kỷ luật sản xuất của các thành viên. Tuy nhiên, để thu hút được các HTX tham gia nhiều hơn nữa, việc quan trọng là phải đảm bảo đầu ra của lúa gạo chất lượng cao một cách bền vững.
Trong thực tế cho thấy, gạo chất lượng cao, phát thải thấp đạt tiêu chuẩn SRP (Sustainable Rice Platform) vẫn là sản phẩm mới, chỉ tập trung một số thị trường ngách có yêu cầu cao sẵn sàng trả thêm tiền cho những loại gạo này như Châu Âu...
Chính vì vậy, ông Lê Tuấn cho rằng cần định hướng rõ ràng cho nông dân, HTX sản xuất để xuất khẩu đến những thị trường nào. Nếu sản xuất sang Châu Âu như Bỉ thì việc sản xuất lúa gạo đạt tiêu chuẩn SRP là cần thiết, nhưng sang các thị trường khác, có thể họ yêu cầu các chứng chỉ cụ thể hơn.
Đặc biệt, khi diện tích lúa gạo giảm phát thải được HTX tham gia sản xuất ngày càng lớn thì bài toán liên kết với doanh nghiệp tiêu thụ cần được tính toán phù hợp. Chẳng hạn như các HTX cùng sản xuất trên diện tích 15.000ha mà một đối tác nước ngoài chỉ có nhu cầu thu mua 8.000 tấn/năm thì phải cần nhiều đối tác là các doanh nghiệp đảm nhận đầu ra mới đảm bảo được khâu tiêu thụ.
TS Tô Xuân Phúc, dự án Forest Trends, cho biết nếu sản xuất chỉ đi riêng về carbon thì khó lôi kéo nông hộ, HTX tham gia mà cần gộp tất cả các lợi ích mới đảm bảo sự bền vững. Còn khi chưa đủ thu hút người dân/HTX thì cần xem lại dự án đó có thực sự bền vững hay không để có sự điều chỉnh phù hợp và kịp thời. Bởi suy cho cùng, vấn đề người dân/HTX quan tâm nhất vẫn là thu nhập.
Thị trường carbon lúa gạo đầy tiềm năng nhưng chỉ có thể khai phá thành công khi giải được bài toán sinh kế và lợi ích kinh tế cốt lõi cho người nông dân và thành viên HTX.
Tín chỉ carbon không nên nhìn nhận như một mục tiêu độc lập để chạy đua, mà phải là kết quả tất yếu của một chu trình canh tác thông minh, hiện đại: Giảm chi phí đầu vào - Tăng chất lượng đầu ra - Tối ưu hóa phụ phẩm tuần hoàn.
Khi các HTX được trang bị đủ công nghệ tiên tiến, được hỗ trợ máy móc cơ giới hóa đồng bộ và có sự đồng hành bao tiêu sát sao của doanh nghiệp cùng chính quyền, sản phẩm của HTX đạt chứng nhận phát thải thấp sẽ vươn xa, và chính các HTX sẽ được hưởng lợi xứng đáng từ thành quả của mình.
Huyền Trang