Mặn mòi đất Quảng

Mặn mòi đất Quảng
2 giờ trướcBài gốc
Mặt sau tấm bia Đê ngăn mặn Hóa Khuê (cầu Bờ Quan, phường Ngũ Hành Sơn). Ảnh: N.D.C
Dưới triều Nguyễn, muối trở thành mặt hàng nhà nước quản lý chặt chẽ, có thuế, có kho dự trữ, phản ánh chính sách kinh tế và đời sống của cư dân ven biển xứ Quảng.
Vị mặn thấm đất
Đất Quảng với “Đông thì biển rộng thinh thinh”, có bờ biển dài từ chân đèo Hải Vân đến vịnh Dung Quất. Độ mặn của nước biển nơi đây có sự khác biệt giữa vùng nước ven bờ với ngoài khơi.
Lớp nước mặt ở vùng nước ven bờ có nồng độ muối thấp so với ngoài khơi vào mùa mưa. Do vậy, đất Quảng không nổi tiếng về sản xuất muối như Sa Huỳnh lân cận hay Cà Ná ở phía nam của “xứ Quảng” xưa.
Tuy nhiên, đất Quảng còn lưu dấu nhiều địa danh có liên quan đến muối.
Trước hết là nhóm địa danh có yếu tố “diêm”. Địa bạ Quảng Nam thời Gia Long (1812) đã ghi các tên xã Diêm Điền, Diêm Phố, Bình An Diêm Trường. Địa danh Diêm Điền còn được nhắc đến trong tác phẩm Quảng Nam tỉnh phú (thế kỉ 19): “Hà Đông Tạo thiền sư thư trái cây chữa bệnh, Diêm Điền Lánh đạo sĩ cỡi rồng vẽ bay cao”. Đạo sĩ tên Lánh ở làng Diêm Điền có thuật dời đình làng, sau vua Tự Đức đòi triệu ra để muốn trị tội nhưng ông cỡi rồng vẽ bay mất.
Nhóm địa danh mang yếu tố “lỗ” có Lỗ Giản xã (nay gọi là Lỗ Giáng), Lỗ Hương Tây châu, Lỗ Hương Thị châu, nguồn Lỗ Đông. Nhóm địa danh có yếu tố “nại”, Nại Hiên nổi tiếng qua câu ca dao “Nại Hiên là Nại Hiên ne/Lấy nước làm muối lấy tre làm nồi” (dị bản: “Nại Hiên là làng í e”). Yếu tố “nại” luôn hằn “nài” trong câu ca dao “Dân nại tui dại như trâu/ Trời chang chang nắng giơ đầu ra phơi”.
Vị mặn còn thấm ở vùng đất xã Hóa Khuê. Văn bia Hóa Khuê Đông xã hà đê kỉ niệm bi chí do tú tài Hồ Thăng Doanh soạn, ghi lại việc xây dựng đê ngăn mặn, có đoạn:
“Ba mươi năm trở lại đây, biển dâng sóng mặn, đất ruộng ô nhiễm. Lúa hai vụ cấy trồng một nửa, thu hoạch chỉ được một phần ba. (…) Xây dựng nên đê quý (…). Từ đó công việc nhà nông càng thêm thuận tiện, việc thủy lợi càng thêm phát triển, lúa xanh tươi tốt (…). Thực là tạo phúc muôn năm cho sinh linh của bổn xã”.
Về mặt từ ngữ, “nại” có nghĩa là ruộng muối, cũng là đơn vị tính. “Lỗ” là muối có sẵn trong tự nhiên, muối mỏ. “Diêm” là muối do con người sản xuất, vì vậy có “diêm dân”, “diêm hộ”. “Diêm” là muối, đồng âm với “Diêm” là âm phủ, địa ngục (trong “Diêm Vương”), nên cách nói bông lơn “đi bán muối” tức là đi gặp Diêm Vương.
Sản vật địa phương
Muối được xem là sản vật địa phương của đất Quảng thời chúa Nguyễn và triều Nguyễn.
Từ thế kỉ 18, Lê Quý Đôn đã liệt kê muối vào mặt hàng sản xuất ở Quảng Nam: “Thuận Hóa không có nhiều của cải, đều phải lấy ở Quảng Nam, vì xứ Quảng Nam là đất phì nhiêu nhất trong thiên hạ. Người Thăng Hoa, Điện Bàn biết dệt vải, lụa, vóc, đoạn, lĩnh, là, hoa màu khéo đẹp chẳng kém gì hàng Quảng Đông. Ruộng đồng rộng rãi, gạo lúa tốt đẹp, trầm hương, tốc hương, sừng tê, ngà voi, vàng bạc, đồi mồi, trai ốc, bông, sáp, đường mật, dấu sơn, cau, hồ tiêu, cá, muối, gỗ lạt đều sản xuất ở đây”.
Đến thời Tự Đức, sách Đại Nam nhất thống chí có chép mục muối vào nhóm sản vật địa phương Quảng Nam: “Muối sản ở 2 huyện Hòa Vang và Lễ Dương, có thuế, mỗi một phương muối nộp thay bằng tiền là 3 tiền”.
Về sau, sách Đồng Khánh địa dư chí càng chép cụ thể hơn: “Muối thô, nước nắm, đá ong, dứa sản ở huyện Hà Đông” khi nói đến sản vật phủ Thăng Hoa và “Muối thô ở ba xã Diêm Phố, Bình An Diêm Trường, Phú Vinh có nghề làm muối” khi nói về sản vật huyện Hà Đông. Phú Vinh xã trong Địa bạ Quảng Nam thời Gia Long ghi là Phú Vinh Thượng xã.
Quản lý nhà nước
Muối là mặt hàng thiết yếu trong cuộc sống. Trong lịch sử, thế giới từng có nhiều cuộc chiến tranh liên quan đến muối. Muối cũng là vật được xem như vật ngang giá để trao đổi mua bán, hoặc dùng để đóng thuế, cống vật. Do vậy, vấn đề muối luôn được nhà nước quản lý chặt chẽ.
Triều đình tổ chức kiểm kê số ruộng muối trên địa bàn đất Quảng. Theo đó, xã Diêm Phố có 9 nại (ruộng muối), xã Nại Hiên Đông Tây có 65 nại, được ghi chép trong địa bạ Quảng Nam thời Gia Long.
Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn cho biết, thuế ruộng sản xuất muối ở Đàng Trong là 221 quan, chiếm 0,27%, trong khi đó, thuế ngoại thương là 3.200 quan, chiếm 3,91%.
Theo Đại Nam thực lục thì từ đời chúa Nguyễn Phúc Khoát bắt đầu định mức thuế muối thu trong 3 năm (năm đầu 1738 thu mỗi người 6 sọt muối, năm thứ 2 thu mỗi người 4 sọt, năm thứ 3 thu mỗi người 3 sọt) để thử xem sức đóng thuế của dân như thế nào, sau đó mới định mức thu theo lệ hằng năm đối với người làm muối.
Minh Mệnh năm thứ 18 (1837), Bộ Hộ tâu: “Các địa phương theo lệ có nộp thuế bằng muối, từ trước đến nay, chi muối ra để dùng không có bao nhiêu, chứa trữ nhiều, không khỏi lâu ngày sinh ẩm ướt, nghĩ nên cho dân chiết nộp bằng tiền”. Vua y theo và cho đổi lệ nộp thuế muối thay bằng tiền.
Tuy nhiên, vua vẫn chỉ dụ các tỉnh lớn như Quảng Nam, Nghệ An thường chứa phải 1.500 phương muối, tức Quảng Nam hằng năm phải nộp 1.500 phương muối chứa vào kho, số còn lại được nộp thay bằng tiền. Như vậy, Quảng Nam được liệt kê là một trong những tỉnh có dự trữ muối lớn, liên quan đến chính sách muối ăn cho nền kinh tế và quân sự của nhà nước.
NGUYỄN DỊ CỔ
Nguồn Đà Nẵng : https://baodanang.vn/man-moi-dat-quang-3335976.html