Từ bài viết “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - Nòng cốt trong tập hợp, đoàn kết và phát huy vai trò của nhân dân” của đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, có thể nhìn thấy một thông điệp rất sâu sắc trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026–2031: Trong kỷ nguyên phát triển mới, Mặt trận không chỉ là nơi quy tụ lòng dân, mà còn phải trở thành chủ thể kiến tạo đồng thuận xã hội, phát huy dân chủ, khơi dậy sức dân và củng cố niềm tin của nhân dân vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Đại hội Đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI diễn ra trong 3 ngày 11,12,13/5, tại Hà Nội. Ảnh: Quang Vinh
Đại đoàn kết toàn dân tộc - mạch nguồn sức mạnh Việt Nam
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam luôn gắn với hai chữ thiêng liêng: đoàn kết. Đoàn kết để giành độc lập. Đoàn kết để bảo vệ Tổ quốc. Đoàn kết để vượt qua đói nghèo, chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh. Và hôm nay, đoàn kết để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình mạnh mẽ của dân tộc.
Điều đáng chú ý trong bài viết của đồng chí Bùi Thị Minh Hoài là cách đặt vấn đề không dừng lại ở việc nhắc lại truyền thống. Đại đoàn kết được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển, một thứ “vốn xã hội” đặc biệt của dân tộc Việt Nam. Đó là nguồn lực không nằm trong lòng đất như khoáng sản, không hiện hữu bằng những con số ngân sách, nhưng lại có sức mạnh làm nên mọi thành công lớn của đất nước. Một quốc gia có thể thiếu thốn về vật chất trong từng giai đoạn, nhưng nếu có lòng dân, có niềm tin, có sự đồng thuận, có khát vọng chung, quốc gia ấy vẫn có thể vượt lên.
Bài viết vì thế gợi mở một cách nhìn rất quan trọng: trong giai đoạn mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không chỉ làm nhiệm vụ tập hợp các giai tầng xã hội theo nghĩa truyền thống, mà phải trở thành nơi đánh thức, tổ chức và chuyển hóa sức mạnh nhân dân thành động lực phát triển. Nhân dân không chỉ là đối tượng vận động, mà là chủ thể sáng tạo. Nhân dân không chỉ tham gia các phong trào, mà còn tham gia xây dựng chính sách, giám sát thực thi chính sách, phản biện xã hội và góp phần hoàn thiện quản trị quốc gia.
Từ góc độ đó, đại đoàn kết không phải là một khẩu hiệu chung chung, mà là một năng lực quốc gia. Năng lực ấy được thể hiện qua khả năng kết nối các tầng lớp nhân dân, dung hòa các lợi ích chính đáng, phát huy điểm tương đồng, tôn trọng sự khác biệt, tạo nên mẫu số chung vì lợi ích dân tộc. Trong một xã hội ngày càng đa dạng về nghề nghiệp, thu nhập, lối sống, phương thức tiếp cận thông tin và nhu cầu phát triển, vai trò của Mặt trận càng trở nên đặc biệt. Mặt trận phải là nơi lắng nghe được tiếng nói của công nhân trong khu công nghiệp, người nông dân ở làng quê, trí thức trong viện trường, doanh nhân trong thương trường, văn nghệ sĩ trong đời sống sáng tạo, đồng bào tôn giáo, đồng bào dân tộc thiểu số, người Việt Nam ở nước ngoài và cả những nhóm yếu thế dễ bị bỏ lại phía sau.
Đoàn kết trong thời đại mới không có nghĩa là làm cho mọi tiếng nói giống nhau, mà là tạo ra một không gian chung để mọi tiếng nói chính đáng đều được lắng nghe, tôn trọng và kết nối vào mục tiêu phát triển đất nước. Đó chính là chiều sâu mới của đại đoàn kết toàn dân tộc.
Từ vận động, tập hợp đến lắng nghe, phản biện và đồng hành cùng nhân dân
Nếu trước đây, hoạt động của Mặt trận thường được hình dung nhiều qua các phong trào, các cuộc vận động, các chương trình an sinh xã hội, thì yêu cầu hiện nay đã cao hơn rất nhiều. Mặt trận phải gần dân hơn, nghe dân sâu hơn, hiểu dân kỹ hơn và phản ánh trung thực hơn tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.
Bài viết của đồng chí Bùi Thị Minh Hoài nhấn mạnh rất rõ vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận. Đây là một chuyển động rất quan trọng trong tư duy về Mặt trận. Bởi lẽ, nếu tập hợp nhân dân là điều kiện đầu tiên để tạo nên sức mạnh đoàn kết, thì giám sát và phản biện xã hội chính là phương thức để bảo đảm tiếng nói của nhân dân đi vào quá trình xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, hoàn thiện chính sách và kiểm soát quyền lực.
Một chính sách đúng không chỉ đúng trong văn bản, mà phải đúng trong đời sống. Một chủ trương lớn không chỉ có ý nghĩa ở tầm chiến lược, mà phải được người dân cảm nhận qua từng con đường, trường học, trạm y tế, công việc, sinh kế, môi trường sống, cơ hội học tập và sự an toàn của cộng đồng. Chính vì vậy, Mặt trận có vai trò đặc biệt trong việc nối liền “ý Đảng” với “lòng dân”, đưa hơi thở cuộc sống vào chính sách, đồng thời đưa chính sách đến với nhân dân bằng cách thuyết phục, gần gũi, nhân văn.
Tôi đặc biệt chú ý đến tinh thần “nghe dân nói” được gợi mở trong bài viết và trong dự thảo chương trình hành động của Mặt trận nhiệm kỳ mới. Đây không chỉ là một hoạt động tiếp xúc, đối thoại, mà nếu làm tốt, có thể trở thành một phương thức quản trị dân chủ ở cơ sở. “Nghe dân nói” không đơn giản là tổ chức một hội nghị, ghi lại một số kiến nghị rồi chuyển đi. Nghe dân nói phải là nghe bằng trách nhiệm, nghe bằng sự tôn trọng, nghe để hiểu vấn đề từ gốc, nghe để sửa mình, sửa chính sách, sửa cách phục vụ nhân dân.
Trong bối cảnh mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang đặt ra yêu cầu mới về quản trị cơ sở, Mặt trận càng cần phát huy vai trò là “tai mắt”, là cầu nối, là kênh phản hồi xã hội tin cậy. Khi cấp cơ sở được trao nhiều trách nhiệm hơn, khi nhiều chính sách tác động trực tiếp đến đời sống người dân được triển khai ngay tại xã, phường, đặc khu, thì vai trò giám sát của nhân dân thông qua Mặt trận càng trở nên cần thiết.
Mặt trận vì thế cần tiếp tục đổi mới từ cách nghĩ đến cách làm. Không chỉ vận động nhân dân tham gia phong trào, mà phải đồng hành với nhân dân trong giải quyết những vấn đề thiết thân. Không chỉ tổng hợp kiến nghị, mà phải theo đến cùng việc giải quyết kiến nghị. Không chỉ phản biện khi chính sách đã gần hoàn thiện, mà phải tham gia từ sớm, từ xa, ngay từ khi hình thành ý tưởng chính sách. Không chỉ tổ chức hoạt động theo kinh nghiệm truyền thống, mà cần biết sử dụng dữ liệu, công nghệ số, nền tảng tương tác trực tuyến để nắm bắt kịp thời những chuyển động của xã hội.
Ở đây, chuyển đổi số của Mặt trận không nên được hiểu đơn giản là số hóa hồ sơ hay lập thêm kênh truyền thông. Sâu xa hơn, đó là năng lực lắng nghe xã hội bằng công nghệ, phân tích xu hướng dư luận, phát hiện sớm những điểm nghẽn trong đời sống cộng đồng, tạo ra những kênh để người dân góp ý chính sách thuận tiện hơn, minh bạch hơn và có phản hồi rõ ràng hơn.
Sứ mệnh mới của Mặt trận trong kỷ nguyên phát triển
Điểm sâu sắc nhất từ bài viết, theo tôi, là đặt Mặt trận trong sứ mệnh kiến tạo đồng thuận xã hội. Đây là bước phát triển rất quan trọng so với chức năng tập hợp, đoàn kết theo nghĩa truyền thống.
Đồng thuận xã hội không phải là sự im lặng. Đồng thuận xã hội càng không phải là sự đồng ý hình thức. Đồng thuận xã hội là kết quả của một quá trình lắng nghe, đối thoại, chia sẻ, thuyết phục và cùng hành động vì lợi ích chung. Một xã hội có đồng thuận cao là xã hội mà người dân cảm thấy mình được tôn trọng, được tham gia, được thụ hưởng, được bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng. Đồng thuận chỉ bền vững khi được xây dựng trên niềm tin. Mà niềm tin chỉ có thể được củng cố bằng sự thật, bằng hiệu quả chính sách, bằng sự công bằng và bằng những chuyển biến cụ thể trong đời sống nhân dân.
Trong kỷ nguyên mới, đất nước ta đặt ra những mục tiêu phát triển rất lớn. Nhưng càng đi nhanh, càng cần sự đồng thuận. Càng đổi mới mạnh mẽ, càng cần sự chia sẻ. Càng sắp xếp, tinh gọn bộ máy, càng cần làm cho người dân hiểu, tin và tham gia. Càng thúc đẩy chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tri thức, càng cần bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau. Đó chính là không gian hành động rất rộng lớn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Mặt trận có thể và cần trở thành nơi kết nối các nguồn lực xã hội cho phát triển. Những phong trào xóa nhà tạm, nhà dột nát; hỗ trợ đồng bào bị thiên tai; chăm lo người nghèo, người yếu thế; xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; bảo vệ môi trường; phát huy dân chủ ở cơ sở… cho thấy khi lòng dân được khơi dậy đúng cách, sức dân có thể trở thành những kết quả rất cụ thể, rất cảm động. Đó là mái nhà mới cho người nghèo. Đó là cây cầu cho trẻ em đến trường. Đó là sự sẻ chia trong mùa bão lũ. Đó là niềm tin được thắp lên trong những phận người khó khăn.
Nhưng trong giai đoạn tới, Mặt trận không chỉ dừng lại ở huy động nguồn lực nhân đạo, từ thiện hay tổ chức phong trào xã hội. Mặt trận còn cần góp phần xây dựng văn hóa đồng thuận trong phát triển.
Từ tập hợp nhân dân đến kiến tạo đồng thuận xã hội là một hành trình đổi mới sâu sắc của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tập hợp là đưa mọi người đến với nhau. Đoàn kết là làm cho mọi người gắn bó với nhau. Nhưng kiến tạo đồng thuận là làm cho mọi người cùng tin, cùng nghĩ, cùng làm, cùng chịu trách nhiệm và cùng hướng tới tương lai chung của dân tộc. Đó là yêu cầu cao hơn, khó hơn, nhưng cũng đúng với vai trò lịch sử của Mặt trận trong giai đoạn mới.
Nhìn từ bài viết của đồng chí Bùi Thị Minh Hoài, có thể thấy Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI không chỉ là một dấu mốc tổ chức, mà còn là dịp để xác lập một tầm nhìn mới về vai trò của Mặt trận trong hệ thống chính trị và đời sống xã hội. Mặt trận phải tiếp tục là mái nhà chung của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhưng đồng thời phải là nơi khơi nguồn sáng tạo, bồi đắp niềm tin, thúc đẩy dân chủ, tăng cường giám sát, phản biện và tạo lập đồng thuận xã hội cho phát triển.
Trong mọi thời đại, lòng dân vẫn là gốc. Nhưng trong thời đại hôm nay, giữ được lòng dân không chỉ bằng truyền thống, mà bằng năng lực phục vụ nhân dân; không chỉ bằng lời kêu gọi, mà bằng kết quả cụ thể; không chỉ bằng phong trào, mà bằng thể chế dân chủ, minh bạch, lắng nghe và hành động đến cùng. Đó cũng là con đường để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục xứng đáng với vai trò nòng cốt trong tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh nhân dân, góp phần đưa đất nước phát triển phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
PGS. TS. Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội