Quang cảnh Hội thảo
Khơi thông nguồn lực từ biển
Sau 8 năm triển khai Nghị quyết 36 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam, nhiều cơ chế, chính sách quan trọng đã được ban hành, góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế biển phát triển. Tuy nhiên, với tiềm năng tự nhiên thuộc nhóm lớn nhất khu vực, đóng góp của kinh tế biển vào nền kinh tế vẫn chưa tương xứng, đòi hỏi những đột phá mới về thể chế và quản trị.
Phát biểu tại Hội thảo Quốc gia “Hoàn thiện thể chế, chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững” do Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương và UBND tỉnh Nghệ An tổ chức chiều 5/6, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho biết, Việt Nam sở hữu hơn 3.260 km bờ biển, vùng biển rộng khoảng 1 triệu km² cùng hơn 4.000 hòn đảo. Đây là nguồn lực đặc biệt quan trọng để phát triển kinh tế biển và nâng cao vị thế quốc gia.
Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp, kết quả đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có. Một trong những nguyên nhân lớn là tình trạng chồng chéo trong hệ thống pháp luật và công tác quản lý nhà nước.
“Còn nhiều điểm nghẽn, đặc biệt là sự giao thoa giữa Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo với Luật Điện lực, Luật Hàng hải cùng các quy định thuộc nhiều bộ, ngành khác nhau”, ông Điệp nhấn mạnh.
Sự chồng lấn này khiến nhiều dự án kinh tế biển phải trải qua quy trình thủ tục phức tạp, kéo dài thời gian triển khai và làm gia tăng chi phí cho doanh nghiệp. Trong bối cảnh các ngành kinh tế biển mới như điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao hay khai thác tài nguyên biển sâu đang nổi lên, yêu cầu hoàn thiện khung khổ pháp lý càng trở nên cấp thiết.
Theo lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, qua quá trình khảo sát và hợp tác quốc tế, Việt Nam được đánh giá có tiềm năng lớn trong khai thác khoáng sản biển sâu, nhiều khu vực chứa các loại khoáng sản chiến lược có giá trị kinh tế cao. Trong khi đó, du lịch biển, đảo vẫn còn dư địa rất lớn để phát triển nhưng chưa được khai thác hiệu quả.
Từ góc độ địa phương, ông Nguyễn Văn Công, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh cho biết, với hơn 250 km bờ biển, ngư trường rộng trên 6.100 km² và hơn 2.770 hòn đảo tự nhiên, Quảng Ninh có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế biển gắn với công nghiệp xanh, thương mại, dịch vụ và cảng biển.
Tuy nhiên, địa phương cũng đang đối mặt với nhiều thách thức mang tính cấu trúc. Dù sở hữu hệ thống cảng nước sâu và các khu kinh tế cửa khẩu năng động, kim ngạch xuất nhập khẩu của Quảng Ninh năm 2025 chỉ đạt khoảng 75%, thấp nhất khu vực Đồng bằng sông Hồng.
Bên cạnh đó, hệ thống logistics biển, hạ tầng hậu cần nghề cá và chuỗi cung ứng thủy sản còn thiếu đồng bộ. Bài toán cân bằng giữa phát triển công nghiệp, khai thác than, sản xuất điện với bảo tồn Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long - Quần đảo Cát Bà cũng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với công tác quy hoạch và quản lý không gian biển.
Áp lực từ biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, ngập úng và xói lở bờ biển tiếp tục là thách thức lớn đối với mục tiêu phát triển bền vững.
Tạo đột phá bằng quản trị biển hiện đại
Một trong những nội dung nhận được nhiều sự quan tâm tại hội thảo là dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi, được kỳ vọng trở thành nền tảng pháp lý mới cho phát triển kinh tế biển trong giai đoạn tới.
Ông Nguyễn Quốc Toản, Cục trưởng Cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, dự thảo luật mở rộng phạm vi điều chỉnh từ quản lý tài nguyên, môi trường biển sang quản trị tổng hợp tài nguyên, không gian biển và môi trường biển.
Theo đó, biển không chỉ được xem là nguồn tài nguyên mà còn là không gian phát triển đa ngành, đa mục tiêu, gắn với kinh tế, quốc phòng, an ninh và lợi ích chiến lược quốc gia.
Dự thảo luật cũng bổ sung cơ chế phân bổ, điều phối không gian biển phù hợp với Quy hoạch không gian biển quốc gia; hoàn thiện quy định về giao, cho thuê và đăng ký sử dụng khu vực biển. Đáng chú ý, lần đầu tiên các cơ chế như đấu giá quyền sử dụng khu vực biển, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển và hồ sơ hải chính được nghiên cứu đưa vào luật nhằm nâng cao tính minh bạch và hạn chế cơ chế “xin - cho”.
Ở góc độ doanh nghiệp và người dân, ông Nguyễn Xuân Lam, Tổng Thư ký Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam cho rằng, việc bổ sung giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển sẽ giúp người dân có cơ sở tiếp cận tín dụng, bảo hiểm và yên tâm đầu tư dài hạn.
Theo ông Lam, đối với nuôi biển xa bờ, cần sớm hoàn thiện cơ chế quy hoạch, phân vùng sử dụng biển, bảo đảm an ninh, an toàn trên biển cũng như tạo điều kiện tiếp cận vốn và giảm chi phí thuê mặt biển.
Đánh giá về định hướng sửa đổi luật, Thứ trưởng Đặng Ngọc Điệp cho biết, điểm đột phá lớn nhất là chuyển từ mô hình quản lý hành chính sang quản trị dựa trên dữ liệu số, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trong tương lai, dữ liệu từ các lĩnh vực khí tượng thủy văn, môi trường biển, nuôi biển, khai thác thủy sản và các hoạt động kinh tế biển sẽ được tích hợp trên một nền tảng thống nhất, phục vụ công tác quản lý, giám sát và điều hành.
“Dữ liệu sẽ trở thành nền tảng quan trọng cho quản trị tài nguyên biển trong thời gian tới”, Thứ trưởng nhấn mạnh.
Cùng với đó, dự thảo luật đề xuất cơ chế cho thuê biển với chi phí hợp lý hơn, thủ tục đơn giản hơn nhằm thu hút đầu tư vào các ngành kinh tế biển mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao và logistics biển.
TS. Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương cho rằng, để kinh tế biển thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần đổi mới tư duy quản, trị, chuyển từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp dựa trên hệ sinh thái biển.
Theo ông Hùng, cùng với việc sớm ban hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sửa đổi, cần đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia, phát triển công nghệ biển hiện đại và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Những giải pháp này không chỉ giúp tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế mà còn mở ra không gian phát triển mới cho kinh tế biển Việt Nam, hướng tới mục tiêu đưa biển thực sự trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng nhanh và bền vững của đất nước trong những thập niên tới.
Hải Yến