Xã biên giới Mường Lát xưa nay vốn nổi tiếng là nơi có hoa đào đá đẹp nhất xứ Thanh. Ảnh: Phương Thùy
“Của để dành” của người vùng cao
Ở các bản làng vùng núi, biên giới, Tết đến không chỉ là thời khắc sum vầy, mà còn là mùa làm ăn lớn nhất trong năm. Những ngày cuối tháng Chạp, trên các triền núi, bà con tất bật chặt tỉa cành đào, sửa dáng, buộc dây, chuẩn bị cho chuyến đi dài về miền xuôi. Đào rừng (hay còn gọi là đào đá, đào rêu mốc) vốn sinh trưởng tự nhiên trên đất dốc, khí hậu khắc nghiệt, nên cành thô, thân mốc, dáng cổ kính, rất được người chơi đào ưa chuộng.
Anh Xồng Bá Lẩu, Trưởng bản Puộc Mú 1, xã biên giới Na Ngoi, tỉnh Nghệ An là một trong những người “ăn nên làm ra” nhờ cây đào. Dẫn chúng tôi đi giữa vườn đào hơn 850 gốc, anh nói bằng giọng tự hào: “Gia đình tôi trồng toàn đào đá, đào rêu mốc, hơn 10 năm tuổi rồi. Mỗi năm chỉ chặt cành một lần, giữ lại gốc cho cây hồi sức. Sau 3-4 năm, cành phát triển, lại cho thu hoạch. Nhờ tỉa cành đào bán mà mỗi năm gia đình có từ 90 đến 100 triệu đồng. Tết đến, cả nhà không phải lo làm việc khác mưu sinh. Mọi chi tiêu lớn nhỏ đều trông vào cây đào”.
Ở nơi đất đá nhiều hơn đất màu, trồng ngô, trồng lúa chỉ đủ ăn, thì cây đào rừng trở thành “của để dành” đúng nghĩa. Mỗi gốc đào là một khoản tiết kiệm dài hạn; mỗi cành đào bán ra là tiền học cho con, tiền sửa nhà, tiền mua trâu bò, máy móc. Không chỉ riêng gia đình anh Lẩu, nhiều hộ trong bản cũng mạnh dạn trồng đào. Từ vài chục gốc ban đầu, nay cả bản đã có hàng nghìn gốc đào các loại. Đào rừng vì thế không còn là cây “trời cho” mà đã trở thành cây “dân nuôi”.
Trước đây, đào chủ yếu được trồng để lấy quả. Quả đào vùng cao tuy nhỏ nhưng thơm, ngọt. Tuy nhiên, giá trị kinh tế không cao, lại phụ thuộc nhiều vào thị trường. Những năm gần đây, khi nhu cầu chơi đào Tết tăng mạnh, bà con đã chuyển hướng: Mở rộng diện tích đào lấy cành, lấy cây. Một cây đào cảnh đẹp có thể bán với giá bằng cả vụ đào lấy quả. Sự chuyển đổi này cho thấy tư duy kinh tế ngày càng linh hoạt của người nông dân vùng cao. Không chỉ bán cành, nhiều hộ còn bán cả cây đào thế, đào cổ thụ, giá từ vài triệu đến vài chục triệu đồng. Người trồng đào vì thế không chỉ là nông dân, mà còn là “nghệ nhân” sáng tạo dáng thế, làm đẹp cho đời.
Từ học làm nông đến làm “nghệ nhân” tạo dáng đào
Trồng đào cảnh không chỉ là việc “trồng rồi chờ thu”. Đó là cả một quá trình học hỏi, sáng tạo và kiên trì. Khác với nhiều loại cây trồng khác, giá trị của đào phụ thuộc rất lớn vào thời điểm nở hoa. Nở sớm hay muộn vài ngày, giá có thể giảm một nửa. Vì thế, người trồng đào cũng là người “canh Tết”.
Từ tháng 10 âm lịch, bà con đã bắt đầu tính toán: Dừng bón phân, hạn chế tưới nước để hãm cây. Khi thấy thời tiết rét kéo dài, họ phun nước ấm để kích thích nở sớm; khi trời ấm bất thường, lại tưới nước lạnh để hãm hoa. Mỗi ngày đều phải quan sát nụ, lá, thời tiết để điều chỉnh. Có năm, rét đậm kéo dài, đào nở muộn, thương lái phải chờ đến sát Tết mới mua được. Có năm, trời ấm sớm, nhiều vườn đào bung hoa trước cả tháng, giá rớt mạnh. Nhưng rủi ro là một phần của nghề. Người trồng đào chấp nhận đánh cược với thời tiết, bởi khi trúng vụ, lợi nhuận đủ bù cho những năm khó. Đối với bà con, việc chăm đào không chỉ là công việc, mà còn là niềm vui. Mỗi sáng ra vườn, nhìn nụ đào căng dần, họ như nhìn thấy Tết đến gần, nhìn thấy tiền bạc, hy vọng đang lớn lên trên từng cành cây.
Đào rừng khoe sắc. Ảnh: vietnamnet.vn
Ở thôn Cán Chư Sử, xã Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai, anh Giàng A Chư được bà con gọi vui là “người uốn hồn cho đào”. Anh Chư có hơn 600 gốc đào cảnh, dáng thế phong phú. Chia sẻ về nghề, anh nói: “Mình lấy hạt đào rừng về trồng thành gốc. Từ lúc cây còn nhỏ phải uốn cho đúng dáng thì sau này mới đẹp. Khi gốc đã khỏe, mình lấy cành đào phai về ghép. Làm vậy cây vừa có dáng cổ của đào rừng, vừa có hoa đẹp. Mình mong làm được nhiều cây đẹp để phục vụ người thích chơi hoa đào”. Từ chỗ chỉ biết trồng ngô, trồng lúa, anh Chư phải tự học từng công đoạn: Chọn hạt, ươm cây, tạo dáng, ghép cành, điều khiển ra hoa đúng Tết. Sai một khâu, coi như mất trắng cả năm công sức. Nhưng chính những lần thất bại đó đã làm nên một người thợ lành nghề.
Mùa xuân trên những vườn đào biên cương
Nhận thấy hiệu quả của cây đào, những năm gần đây, chính quyền các địa phương vùng cao đã tích cực tuyên truyền, hướng dẫn bà con trồng và chăm sóc đào đúng kỹ thuật. Các lớp tập huấn, các mô hình điểm được xây dựng để người dân học hỏi. Bên cạnh việc khai thác cành từ những cây đã đến tuổi, bà con được vận động trồng mới, mở rộng diện tích. Nhà nước hỗ trợ giống, phân bón, kỹ thuật; tạo điều kiện cho thương lái vào tận bản thu mua, giảm chi phí vận chuyển cho người dân. Nhờ đó, diện tích trồng đào được duy trì ổn định. Nhiều bản làng đã hình thành vùng trồng đào tập trung, có thương hiệu riêng. Người dân yên tâm gắn bó lâu dài với cây đào, coi đây là sinh kế chính chứ không phải nghề phụ.
Những ngày giáp Tết, đi trên các tuyến đường vùng cao, dễ dàng bắt gặp cảnh thương lái tấp nập vào bản, xe chở đầy cành đào rẽ sương xuống núi. Trong vườn, bà con cười nói rộn ràng, tay buộc dây, tay ghi chép đơn hàng. Trẻ con chạy quanh những gốc đào, chờ bố mẹ bán xong để sắm quần áo mới. Khi những cành đào ấy về đến phố, người mua chỉ thấy vẻ đẹp của hoa, ít ai nghĩ đến những bàn tay chai sạn đã uốn từng cành, những đêm thức trắng canh rét, canh nắng để hoa nở đúng ngày. Mỗi cành đào vì thế không chỉ là một sản phẩm hàng hóa, mà còn là kết tinh của mồ hôi, trí tuệ và khát vọng đổi đời của người vùng cao.
Mô hình trồng đào rừng thực sự là “một mũi tên trúng nhiều đích”: Vừa phát triển kinh tế, vừa tạo việc làm, vừa giữ gìn bản sắc văn hóa, vừa bảo vệ môi trường. Từ một loài cây mọc hoang trên núi đá, đào rừng đã trở thành cây làm giàu, cây giữ hồn Tết và cây của niềm tin. Trong hành trình xây dựng kinh tế vùng biên, những vườn đào lặng lẽ ấy chính là minh chứng sống động cho tinh thần tự lực, sáng tạo của đồng bào các dân tộc. Mỗi mùa xuân về, khi đào lại nở hồng trên triền núi cũng là lúc hy vọng lại nảy lộc, tiếp thêm động lực để bà con vững vàng đi tiếp con đường thoát nghèo bền vững trên miền biên cương Tổ quốc.
Phương Thùy