Mở rộng cơ hội cho hàng Việt vào thị trường Halal

Mở rộng cơ hội cho hàng Việt vào thị trường Halal
2 giờ trướcBài gốc
Một trong các sản phẩm được cấp chứng nhận Halal trong năm 2026. Ảnh: Bộ Công Thương
Thị trường Halal (dành cho người theo đạo Hồi) toàn cầu phát triển mạnh mẽ với quy mô hàng nghìn tỷ USD; trải dài từ thực phẩm, dược phẩm đến dịch vụ tài chính và logistics, tạo ra cơ hội lớn cho hàng xuất khẩu Việt Nam. Tuy nhiên, để chuyển từ tiềm năng sang giá trị thực, doanh nghiệp phải chủ động đáp ứng các tiêu chuẩn và có chiến lược thị trường phù hợp. Đây là nhận định của các chuyên gia tại Hội thảo "Chiến lược Halal: Kết nối thực phẩm Việt vào thị trường GCC và Đông Nam Á” do Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh (ITPC) phối hợp Hiệp hội Lương thực thực phẩm TP. Hồ Chí Minh (FFA) tổ chức, ngày 3/4.
Bà Hồ Thị Quyên, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh (ITPC)cho biết, quy mô dân số Hồi giáo toàn cầu đã vượt 1,9 tỷ người, chiếm khoảng 25% dân số thế giới. Đây là lực lượng tiêu dùng cốt lõi, với khoảng 63% người tiêu dùng Hồi giáo sử dụng thực phẩm Halal thường xuyên. Đặc biệt, khu vực Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC) và Đông Nam Á đang trở thành những thị trường trọng điểm, có nhu cầu cao đối với các sản phẩm thực phẩm đạt chuẩn Halal. Đáng chú ý, xu hướng tiêu dùng Halal đang lan rộng sang cả nhóm khách hàng không theo đạo Hồi, nhờ các tiêu chí khắt khe về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn đạo đức.
Bà Hồ Thị Quyên, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP. Hồ Chí Minh (ITPC), phát biểu tại hội thảo. Ảnh: Xuân Anh - TTXVN
Dù cơ hội rộng mở, mức độ tham gia của doanh nghiệp Việt vào thị trường Halal vẫn còn hạn chế. Theo bà Hồ Thị Quyên, hiện chỉ khoảng 0,2% doanh nghiệp Việt Nam có sản phẩm đạt chứng nhận Halal. Tổng số doanh nghiệp được cấp chứng nhận Halal mới dừng ở gần 1.000, trong khi mỗi năm chỉ có thêm khoảng 50 doanh nghiệp mới gia nhập. Thực tế này phản ánh rằng, nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn đang gặp khó khăn trong việc tiếp cận thông tin, tiêu chuẩn và hệ thống chứng nhận Halal, cũng như thiếu chiến lược bài bản để thâm nhập thị trường. Đồng thời, cơ cấu sản phẩm Halal của Việt Nam hiện vẫn chủ yếu là nguyên liệu thô hoặc sơ chế, giá trị gia tăng chưa cao.
Ông Trương Xuân Trung, Trưởng Thương vụ Việt Nam tại UAE thông tin: Ước tính quy mô nền kinh tế Halal đạt khoảng 5.000 tỷ USD và có thể chạm mốc 10.000 tỷ USD vào năm 2028. Trong cấu trúc này, khu vực Trung Đông, đặc biệt là các quốc gia thuộc Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC) đang giữ vai trò trung tâm với tỷ trọng lớn. Nhu cầu nhập khẩu thực phẩm tại đây chiếm tới 85–90%, mở ra dư địa đáng kể cho các quốc gia xuất khẩu như Việt Nam.
Không chỉ dừng ở thực phẩm, hệ sinh thái Halal đang mở rộng mạnh sang dược phẩm, mỹ phẩm, thời trang, bao bì và cả dịch vụ tài chính Hồi giáo, logistics chuyên biệt. Những phân khúc mới nổi như thời trang Halal hay bao bì thân thiện môi trường được dự báo đạt quy mô hàng trăm tỷ USD trong những năm tới.
Đặc biệt, Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện (CEPA) giữa Việt Nam và UAE có hiệu lực từ ngày 03/02/2026 quy định lộ trình xóa bỏ thuế quan cho 99% hàng hóa Việt Nam. Cơ chế này sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh về giá đặc biệt quan trọng cho hàng hóa xuất khẩu của nước ta so với các đối thủ chưa ký kết hiệp định thương mại tự do với UAE.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp có thể khai thác vị trí địa lý chiến lược của UAE trên tuyến đường thương mại Á - Âu - Phi cùng hệ thống hạ tầng cảng biển, sân bay hiện đại để thiết lập mạng lưới logistics và mở rộng thị phần sang các nước lân cận.
Ở khu vực ASEAN, bà Nguyễn Thị Ngọc Hằng, Giám đốc Marketing Văn phòng Chứng nhận Halal Việt Nam, với hơn 40% dân số là người Hồi giáo (Muslim) không chỉ mở ra dư địa xuất khẩu lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam mà còn được xem như bàn đạp chiến lược để thâm nhập vào chuỗi cung ứng Halal toàn cầu. Ngoài chi phí vận chuyển thấp, sự gần gũi về địa lý và văn hóa tiêu dùng giúp doanh nghiệp Việt dễ dàng tiếp cận hơn, tạo tiền đề mở rộng sang các khu vực xa hơi.
Bà Lý Kim Chi, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực thực phẩm TP. Hồ Chí Minh (FFA) chia sẻ cơ hội, thách thức của doanh nghiệp tại hội thảo. Ảnh: Xuân Anh - TTXVN
Bà Lý Kim Chi, Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Thực phẩm TP. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, ngành lương thực – thực phẩm Việt Nam đang đứng trước những cơ hội lớn để mở rộng thị trường xuất khẩu, đặc biệt là các thị trường giàu tiềm năng như khu vực GCC và Đông Nam Á. Trong đó, thị trường Halal được đánh giá là một trong những lĩnh vực phát triển nhanh, có quy mô lớn và yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn, chất lượng cũng như tính minh bạch trong chuỗi cung ứng.
Để tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị Halal toàn cầu, doanh nghiệp Việt Nam cần có sự chuẩn bị toàn diện, từ việc nâng cao nhận thức về tiêu chuẩn Halal, đầu tư vào quy trình sản xuất, đến việc xây dựng thương hiệu và năng lực cạnh tranh bền vững. Đồng thời, sự đồng hành của các cơ quan xúc tiến, tổ chức quốc tế và hệ thống chứng nhận là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro và tối ưu hóa cơ hội.
Ông Trương Xuân Trung lưu ý, yêu cầu đối với sản phẩm Halal hiện nay không chỉ giới hạn ở các tiêu chuẩn tôn giáo mà đã được đồng bộ hóa với các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm, nông nghiệp hữu cơ (Organic) và gắn liền với định hướng phát triển bền vững (ESG).
Thị trường đang ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng “Halal xanh”, ưu tiên các sản phẩm có nguồn gốc thực vật, sử dụng bao bì tự hủy và hướng tới mục tiêu giảm phát thải carbon.
Ông Trương Xuân Trung cho rằng, việc nâng cao năng lực tuân thủ cần bắt đầu từ lựa chọn đơn vị cấp chứng nhận Halal uy tín và đầu tư thiết lập dây chuyền sản xuất chuyên biệt, đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường. Chú trọng công tác bản địa hóa sản phẩm: Thiết kế bao bì cần sử dụng ngôn ngữ kép (tiếng Anh - tiếng Ả Rập), sử dụng hình ảnh phù hợp với thuần phong mỹ tục Hồi giáo, điều chỉnh hương vị theo thị hiếu bản địa, ít đường hóa học. Hơn nữa, doanh nghiệp cũng cần đa dạng hóa phương thức tiếp cận thị trường thông qua việc kết hợp các kênh phân phối bán lẻ truyền thống (như hệ thống Lulu Hypermarket, Carrefour Gulf) và các nền tảng thương mại điện tử (Noon.com, Amazon.ae).
Về phía Hội đồng Doanh nghiệp Việt Nam tại UAE, Phó Chủ tịch Tạ Xuân Hiển nhận định, hạn chế lớn nhất của hàng Việt là đang phụ thuộc quá nhiều vào khâu trung gian, xuất khẩu qua nước thứ ba khiến doanh nghiệp vừa mất đi lợi nhuận, vừa đánh mất cơ hội định vị thương hiệu trực tiếp. Để thâm nhập sâu, sản phẩm cần được định hướng tập trung vào các nhà nhập khẩu, nhà phân phối, chuỗi bán lẻ (siêu thị, cửa hàng tiện lợi tại UAE, Saudi Arabia, Qatar) và đặc biệt là kênh HORECA (khách sạn, nhà hàng, dịch vụ ăn uống) nơi có nhu cầu rất lớn và ổn định.
“Thị trường Trung Đông luôn duy trì nhu cầu lớn nhưng đặc biệt chú trọng tìm kiếm các nhà cung cấp đáng tin cậy. Doanh nghiệp cần tránh tâm lý vội vã, "kỳ vọng nhanh", mong muốn chốt doanh số ngay lập tức. Quá trình thâm nhập thực tế đòi hỏi sự kiên trì để xây dựng niềm tin lâu dài với đối tác sở tại.Cần chủ động phòng ngừa các rủi ro phát sinh từ việc thiếu am hiểu cấu trúc giá, chi phí logistics đặc thù tại khu vực”, ông Tạ Xuân Hiển khuyến nghị thêm.
Xuân Anh/vnanet.vn
Nguồn Bnews : https://bnews.vn/mo-rong-co-hoi-cho-hang-viet-vao-thi-truong-halal/416131.html