CUỘC TRỞ VỀ
Tiếng hát vang xa, chậm rãi, làm cho mùa gió bấc thêm ý nghĩa, nhắc người đồng bằng nhớ chuyện cũ, nhớ quê hương và nhớ dáng hình những người phụ nữ Nam Bộ, thủy chung, son sắt, chịu thương, chịu khó. Chính họ đã làm nên hồn quê ở vùng đất phương Nam.
Tôi trở lại miền Tây khi mùa gió bấc vừa chớm. Trời se lạnh, sương mỏng tang phủ kín bờ kênh. Má Bảy đang nhóm bếp, ngọn lửa hồng lung linh trong gió. Má nói, giọng hiền khô: “Gió bấc năm nay về sớm nghen con. Trời lạnh kiểu này chắc lúa no hạt, đám dưa ngoài bờ đê cũng sắp ra trái rồi đó”.
Tôi ngồi bên bếp rơm, khói cay xè mắt. Ngoài kia, hàng dừa nghiêng bóng xuống mặt kênh, từng cơn gió ràn rạt qua vườn chuối. Trong cái lạnh nhẹ của đất trời, tôi bỗng thấy mùa xưa như trở về. Đó là những buổi tát đìa rộn rã, tiếng gọi nhau í ới, là mùi khói rơm quyện với mùi bùn non, mùi lúa mới, thứ hương vị rất riêng của miền quê sông nước.
Gió bấc thường về từ tháng Mười âm lịch, mang theo hơi lạnh từ phương Bắc xuôi về phương Nam, báo hiệu mùa mưa đã dứt. Nắng dịu hơn, mây giăng trắng trên cánh đồng lúa chín, sương sớm phủ mờ bờ kênh, bờ ruộng. Gió từ cửa sông, cửa biển lùa qua hàng dừa, hàng chuối, làm mặt nước gợn li ti như tấm lụa. Mùi rơm rạ, mùi bùn non theo gió lan xa, thân thuộc như hơi thở quê nhà.
Mùa này, chim chóc đậu kín rặng tre, lũ trẻ co ro trong manh áo mỏng, người lớn nhóm bếp sớm hơn mọi ngày. Thiên nhiên mát lạnh, đất trời hiền hòa, chỉ còn tiếng gió khe khẽ qua vườn cau, rặng chuối, báo hiệu một mùa mới đang sang.
Gió bấc về cũng là mùa thu hoạch lúa mùa nổi, mùa cưới, mùa trồng dưa hấu và rau màu. Người dân tranh thủ tát đìa bắt cá, vừa mưu sinh, vừa là ngày hội của làng. Cá rô, cá lóc, cá trê theo dòng nước rút xuống kênh, con nào con nấy béo tròn. Ruộng đồng no nước, vườn tược xanh tươi, lúa Đông Xuân trổ đều, ít sâu bệnh.
Trưa hôm đó, chú Năm Hoành rủ tôi ra thăm ruộng. Con đường đất men theo bờ kênh, cỏ xước rạp theo chiều gió. Cánh đồng trước mặt ngút ngàn, lúa đang thì con gái, oằn mình cong trái me, hương lúa thơm ngọt. Chú Năm cười hiền: “Hồi xưa, tới chừng gió bấc thổi là ai cũng lo tát đìa bắt cá ăn Tết. Lúc đó vui lắm, bùn sình nhiều mà chẳng ai ngại”.
Cái đìa sau ruộng đã rộn ràng tiếng nói cười. Mấy anh thanh niên hì hục tát nước, tiếng máy bơm xen lẫn tiếng reo hò. Nước vừa cạn, ai nấy ùa xuống, tay mò tay chụp, cá nhảy loạn xạ. Má Bảy đội nón lá nghiêng nghiêng, vừa cười vừa hối: “Bắt lẹ đi mấy đứa, kẻo trời đứng gió, cá chui hết xuống bùn đó nghen”.
Cô Bảy Tiết kéo lưới, giọng sang sảng: “Năm ngoái, tui mò được con cá lóc bằng bắp tay, nướng trui một bữa, ăn ngon quên đất trời luôn”.
Cả xóm cười vang. Nắng trưa gắt mà chẳng ai thấy nóng. Mùi bùn, mùi rơm, mùi cá tươi quyện trong gió bấc, thành hương vị rất riêng của miền Tây, dân dã mà quyến luyến.
Khi đìa cạn, người ta nhóm bếp ngay bên bờ ruộng. Rơm khô vun lên, lửa bén, khói trắng bay nghi ngút. Cá lóc xỏ tre nướng trui trong đống rơm cháy đượm. Mỡ cá xèo xèo, mùi thơm lan xa, quyện cùng hương rơm cháy và hơi gió đầu mùa, thứ mùi thơm của đồng quê, giản dị mà nhớ hoài.
Cá chín vàng, da cháy xém, thịt trắng phau. Má Bảy đặt lên tàu lá chuối, chan chút nước mắm me, rắc vài lát ớt đỏ. Cả nhóm ngồi quanh, ăn bằng tay, cười bằng mắt, kể chuyện mùa màng, chuyện cưới hỏi sắp tới. Giữa cánh đồng gió bấc, không có bữa tiệc nào ấm hơn bữa cơm ấy.
KHÚC HÁT LÁ TRẦU XANH
Chiều xuống, hoàng hôn trải dài trên cánh đồng phẳng lặng. Gió bấc thổi ràn rạt qua rặng dừa, mang theo mùi rơm mới và tiếng chim gọi bầy. Cô Bảy Tiết ngồi bên bến nước, vừa gỡ tóc rối vừa cười: “Chiều nào có gió bấc mà không hát, thấy nhớ quê đến lạ”. Rồi cô cất giọng, trầm mà ấm, chậm rãi như kể lại một câu chuyện cũ:
“Thương nhau cau bổ làm đôi mảnh,
Một lá trầu xanh thắm nợ duyên…”.
Tiếng hát ngân dài, trôi theo gió, lẫn vào tiếng nước vỗ bờ. “Lá trầu xanh” kể chuyện cô gái miền quê gánh trầu ra chợ, tin vào lời hẹn ước, chờ người đi xa. Lá trầu héo, duyên phận cũng héo, để lại gánh trầu nặng trĩu và đôi mắt buồn lặng lẽ.
Cô Bảy ngừng hát, nhấp ngụm trà rồi nói khẽ: “Đời người con gái miền Tây, thương ai thì thương thiệt tình. Cái tình đó giống lá trầu xanh, càng nhai càng cay, càng đậm, càng khó quên”.
Trong tiếng hát ấy không chỉ có chuyện tình buồn, mà còn có cả tấm lòng thủy chung, chịu thương chịu khó của người phụ nữ miền sông nước, những người biết chờ, biết nhẫn nại, biết giữ cái đẹp hiền hậu giữa cuộc đời nhiều đổi thay.
Tôi nhìn đôi tay rám nắng của cô Bảy đang vá áo dưới ánh đèn dầu. Bàn tay ấy từng tát đìa, cấy lúa, vít rơm, nấu cơm cho cả nhà sau một ngày dài làm ruộng. “Đời đàn bà quê mình, cực thì cực chớ hổng than. Còn sống là còn thương, còn lo cho chồng con, cho xóm giềng”.
Câu nói nghe đơn sơ mà chứa cả triết lý nhân sinh. Tình thương của họ không ồn ào, không kể công, mà lặng lẽ như dòng sông Tiền, sông Hậu, chảy mãi trong từng bữa cơm, từng bếp lửa, từng câu hát ru con.
Người phụ nữ miền Tây như hoa sen mọc giữa bùn đất, tưởng mong manh mà bền bỉ. Họ gồng gánh mưa nắng, vượt bao mùa khổ cực, vẫn giữ nét dịu dàng, thủy chung và tấm lòng bao dung. Chính họ giữ cho miền Tây mãi hiền hòa, là gốc rễ của cái tình, cái nghĩa nơi này.
Khi màn đêm buông xuống, xóm quê chìm trong ánh đèn vàng hiu hắt. Trên sông, sóng nước loang loáng ánh trăng non. Gió bấc vẫn thổi nhẹ, phả vào mái lá tiếng rì rào như lời ru.
Má Bảy ngồi vá áo dưới ánh đèn dầu, nói khẽ: “Đất quê mà không có gió bấc thì buồn lắm. Gió về là thấy Tết tới gần, thấy lòng mình cũng muốn làm cho nhà cửa ấm hơn”.
Tôi đứng bên bờ kênh nhìn sương phủ trắng mặt nước. Gió bấc lạnh đầu vai mà ấm trong lòng. Xa xa, ánh đèn lấp lánh trên ruộng lúa đang thì con gái. Tôi ghi vào sổ tay: Miền Tây mùa gió bấc, nơi đất trời se lạnh mà lòng người vẫn ấm.
Sáng hôm sau, tôi rời miền Tây trong làn gió bấc còn phảng phất. Con sông Tiền lấp lánh nắng sớm, ghe xuôi dòng mang theo tiếng máy nổ giòn, tiếng người cười nói. Tôi ngoái nhìn bờ bãi lùi xa, thấy bóng Má Bảy bên bếp lửa, chú Năm Hoành nhóm khói đốt đồng, cô Bảy Tiết chèo xuồng thong thả, giọng “Lá trầu xanh” còn lẩn quẩn giữa hai bờ.
Miền Tây tiễn người bằng gió, bằng khói rơm, bằng nụ cười chân chất mà ấm như lửa bếp quê. Tôi chợt hiểu, cái tình của người Nam Bộ không ồn ào, không kiểu cách, nhưng rộng lượng, hào sảng và thủy chung đến lạ thường. Gió bấc vẫn thổi, se lạnh mà nồng nàn, mang theo hơi ấm của những tấm lòng biết giữ lửa cho nhau giữa dòng đời hối hả.
Trúc Mai