Mục tiêu xuất khẩu 550 tỷ USD trong năm 2026 đối mặt với 'cơn gió ngược' từ Trung Đông

Mục tiêu xuất khẩu 550 tỷ USD trong năm 2026 đối mặt với 'cơn gió ngược' từ Trung Đông
3 giờ trướcBài gốc
Theo số liệu thống kê, trong hai tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu 76 tỷ USD và tăng 18,9% so với cùng kỳ năm 2025. Có đến đến 13 mặt hàng xuất khẩu đạt hơn 1 tỷ USD và 5 nhóm mặt hàng đạt hơn 5 tỷ USD. Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đạt gần 80 tỷ USD và tăng hơn 26% so với cùng kỳ năm 2025. Như vậy, thâm hụt thương mại giữa xuất khẩu và nhập khẩu là đạt gần 3 tỷ USD.
Bền lề Hội nghị giao ban xúc tiến thương mại với hệ thống thương vụ Việt Nam ở nước ngoài quý I, ông Nguyễn Anh Sơn, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương, cho rằng mức nhập siêu những tháng đầu năm phản ánh một phần khá tích cực đối với hoạt động sản xuất và xuất khẩu của nền kinh tế.
Cụ thể, vào những tháng cuối năm 2025, các doanh nghiệp Việt Nam đã đẩy mạnh xuất khẩu nhiều mặt hàng phục vụ nhu cầu Giáng sinh và Tết Dương lịch của các thị trường quốc tế, khiến đà xuất khẩu trong những tháng đầu năm 2026 có phần chững lại.
Trong khi đó, để phục vụ kế hoạch sản xuất kinh doanh đầu năm và nhu cầu của quý I/2026, nhiều doanh nghiệp đã tăng cường nhập khẩu năng lượng, nguyên liệu thô và linh kiện, phụ tùng phục vụ sản xuất.
“Việc nhập khẩu tăng chủ yếu phục vụ sản xuất và xuất khẩu trong thời gian tới. Đây là yếu tố cho thấy hoạt động sản xuất công nghiệp và xuất khẩu của Việt Nam đang được chuẩn bị nguồn lực để tăng trưởng mạnh hơn trong các tháng tiếp theo", ông Sơn nêu rõ.
Ông Nguyễn Anh Sơn, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương. (Ảnh: Nguyễn Ngọc).
Tăng trưởng xuất khẩu hai con số là thách thức
Nghị quyết số 01 ngày 8/1/2026 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026 đặt mục tiêu tăng tổng kim ngạch xuất khẩu khoảng 15 - 16% so với năm 2025, tương đương 546 - 550 tỷ USD.
Tuy vậy, theo ông Nguyễn Anh Sơn, Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), mục tiêu này là một thách thức rất lớn trong bối cảnh các diễn biến quân sự tại khu vực Trung Đông, đặc biệt là khu vực vùng Vịnh, có thể tác động đáng kể tới chuỗi cung ứng toàn cầu và hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam.
Trước hết là vấn đề nguồn cung năng lượng. Khoảng 20% lượng dầu và khí của thế giới được vận chuyển qua các tuyến hàng hải quan trọng tại khu vực này. Vì vậy, khi xảy ra xung đột, giá năng lượng thường có xu hướng biến động mạnh.
Thứ hai là tác động đến chuỗi vận tải và logistics quốc tế. Khi căng thẳng leo thang, hoạt động vận chuyển hàng hóa có thể bị gián đoạn, dẫn tới tình trạng thiếu container rỗng, ách tắc trung chuyển hoặc gia tăng chi phí vận tải.
“Ngay cả trong trường hợp xung đột kết thúc sớm, hệ quả của sự gián đoạn chuỗi cung ứng vẫn có thể kéo dài thêm một thời gian, bởi hệ thống vận tải quốc tế cần thời gian để khôi phục trạng thái bình thường”, ông Sơn quan ngại.
Tại họp báo thường kỳ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, ông Trần Gia Long, Vụ phó Vụ Kế hoạch - Tài chính cho biết, căng thẳng tại Trung Đông có thể tạo ra những rủi ro đáng kể đối với xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam.
Nếu xung đột kéo dài khoảng một tháng, kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam có thể giảm khoảng 1 tỷ USD. Trong trường hợp xung đột kéo dài 3 tháng, mức thiệt hại có thể lên tới 3-3,5 tỷ USD, do chi phí logistics tăng mạnh và chuỗi cung ứng bị gián đoạn.
Ở kịch bản xấu nhất, nếu chiến sự kéo dài tới một năm, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam có thể giảm 7-8 tỷ USD.
"Nguyên nhân chủ yếu không phải do Trung Đông là thị trường quá lớn của nông sản Việt Nam, mà do xung đột làm gián đoạn các tuyến vận tải quốc tế và làm tăng chi phí thương mại đối với các thị trường lớn như châu Âu và Bắc Phi", ông Trần Gia Long đánh giá.
Trong báo cáo về tác động chiến sự tại Trung Đông đối với Việt Nam, VinaCapital cũng dự báo trong trường hợp xung đột chuyển sang trạng thái “chiến tranh tiêu hao”, kéo dài nhiều tuần khi không bên nào đạt được lợi thế quyết định có thể gây gián đoạn nguồn cung năng lượng tại Eo biển Hormuz – tuyến vận chuyển dầu mỏ quan trọng của thế giới.
Nếu điều này xảy ra, giá dầu có thể vượt mốc 100 USD/thùng trong thời gian ngắn, tạo ra cú sốc năng lượng đối với nhiều nền kinh tế. Đối với Việt Nam, lạm phát có thể vượt 5% và kéo lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng lên trên ngưỡng 7–8%/năm.
Điều này dẫn đến, tăng trưởng GDP có thể giảm khoảng 1 điểm % do chi phí năng lượng cao và hoạt động thương mại toàn cầu suy yếu và khoảng 1 điểm % do xuất khẩu sụt giảm.
Cần có sự phối hợp đồng bộ
Ở góc nhìn lạc quan, TS. Nguyễn Sơn, giảng viên ngành Quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, thay vì chỉ nhìn vào áp lực chi phí, doanh nghiệp Việt Nam cần nhận ra rằng tình huống này tạo ra cơ hội với đối tác EU. Châu Âu đang đồng thời đối mặt với khủng hoảng năng lượng và quan hệ EU–Mỹ suy giảm. Trong bối cảnh đó, EU đang tích cực tìm kiếm các đối tác thương mại ổn định.
Doanh nghiệp Việt Nam có thể chủ động đề xuất điều chỉnh hợp đồng: bổ sung điều khoản phụ phí vận tải linh hoạt, chia sẻ gánh nặng chi phí tăng thêm một cách minh bạch, và tận dụng khuôn khổ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) để đàm phán ưu đãi dài hạn đổi lấy cam kết cung ứng ổn định. Cân bằng trên bàn đàm phán có thể nghiêng về phía người bán có nguồn cung đáng tin cậy.
Ví dụ trong ngành dệt may, các đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Việt Nam như Bangladesh, Pakistan, Sri Lanka trong ngành dệt may cũng chịu tác động tương tự, không có lợi thế địa lý đặc biệt hơn. Do đó, xét về tương quan chi phí vận tải, Việt Nam không bị mất lợi thế cạnh tranh trên thị trường châu Âu.
TS. Nguyễn Sơn, giảng viên ngành Quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam. (Ảnh: NVCC)
Quan trọng hơn, trong môi trường bất ổn địa chính trị kéo dài, các nhà mua hàng quốc tế đang ngày càng ưu tiên sự ổn định và đáng tin cậy hơn giá thấp nhất tuyệt đối, đây là xu hướng có lợi cho Việt Nam. Với nền tảng chính trị ổn định, vị trí địa lý an toàn, mạng lưới 20 hiệp định thương mại tự do (FTA) có hiệu lực và quan hệ cân bằng với nhiều cực quyền lực, Việt Nam đang sở hữu lợi thế cạnh tranh phi giá ngày càng có giá trị.
"Lợi thế này chỉ được hiện thực hóa nếu doanh nghiệp Việt Nam chủ động củng cố năng lực giao hàng đúng hạn, chất lượng ổn định, và thông tin chuỗi cung ứng minh bạch, những yếu tố mà người mua quốc tế đang coi trọng hơn bao giờ hết trong bối cảnh rủi ro toàn cầu gia tăng", TS. Nguyễn Sơn lưu ý.
Còn theo Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu, năm 2026 chưa đi qua quý I, vẫn còn hơn ba quý để các cơ quan quản lý và doanh nghiệp chuẩn bị và tăng tốc. Trước hết, cần nâng cao chất lượng công tác dự báo, cảnh báo sớm và cung cấp thông tin kịp thời, chính xác về diễn biến thị trường để các bộ, ngành chủ động xây dựng giải pháp điều hành phù hợp.
Các chính sách cần có sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều cơ quan như Bộ Công Thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Xây dựng, nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến ngành hàng, vận tải hàng hóa, chính sách tài khóa và cân đối ngoại tệ.
Bên cạnh đó, việc điều hành linh hoạt giữa sản xuất, tiêu dùng nội địa và hoạt động xuất nhập khẩu cũng được coi là yếu tố quan trọng. Sản xuất cần được duy trì đà tăng trưởng để đảm bảo nguồn hàng cho xuất khẩu, đồng thời thị trường trong nước cũng cần được thúc đẩy tiêu thụ nhằm hấp thụ một phần sản lượng trong trường hợp xuất khẩu gặp khó khăn.
Một giải pháp khác là sử dụng linh hoạt các công cụ quản lý ngoại thương để điều tiết hoạt động xuất – nhập khẩu theo từng thời điểm, qua đó tránh tình trạng ách tắc hàng hóa, tồn kho lớn hoặc đọng vốn của doanh nghiệp và người sản xuất.
Về dài hạn, Bộ Công Thương sẽ tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành thúc đẩy đàm phán các thỏa thuận thương mại mới và mở rộng thị trường xuất khẩu. Ngoài việc tận dụng tối đa 17 FTA đang có hiệu lực, Việt Nam cũng đang hướng tới các thị trường tiềm năng như Pakistan, Ai Cập, Algeria, các nước Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (GCC) hay khu vực Nam Mỹ thuộc khối Mercosur.
Ngoài ra, hệ thống Thương vụ Việt Nam ở nước ngoài sẽ tiếp tục được yêu cầu chủ động nắm bắt thông tin thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp và kịp thời đưa ra các cảnh báo về chính sách, quy định mới của nước sở tại.
"Các hiệp hội ngành hàng cũng được khuyến khích hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm thị trường mới, đồng thời chú trọng ký kết các hợp đồng có điều khoản bảo hiểm liên quan đến logistics, cước vận tải và các rủi ro trong bối cảnh thương mại quốc tế còn nhiều bất định", ông Nguyễn Anh Sơn thông tin.
Ngọc Bảo
Nguồn Doanh Nhân VN : https://doanhnhanvn.vn/muc-tieu-xuat-khau-550-ty-usd-trong-nam-2026-doi-mat-voi-con-gio-nguoc-tu-trung-dong.html